|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 68/2023/HNGĐ-ST Ngày 24/10/2023 V/v Tranh chấp về ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Đình Hưng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Lan
2. Bà Nguyễn Thị Biên
Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh- kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 243/2023/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 7 năm 2023, về việc “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QÐST-HNGĐ ngày 23/8/2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1972 (Có mặt)
Địa chỉ hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ nơi ở hiện tại: Số B, ngõ A đường G, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
*Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1968 (vắng mặt)
Địa chỉ hộ khẩu thường trú: Số A ngách A, ngõ A đường G, tổ dân phố G, phường D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị Hồng T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn H tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã D, thị xã B (nay là phường D, thành phố B) ngày 02/11/1995. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tại tổ dân phố G. Đến năm 2015, giữa bà và ông H phát sinh nhiều mâu thuẫn kéo dài đến năm 2023 thì trở nên trầm trọng, khiến cả hai cảm thấy áp lực, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Mặc dù được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng mâu thuẫn không được cải thiện. Nay bà xác định không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn ông Nguyễn Văn H.
Về con chung: Bà và ông H có hai con chung là: Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 15/10/1996 và Nguyễn Minh A1, sinh ngày 17/01/2009. Khi ly hôn, bà đề nghị Toà án giao cháu Nguyễn Minh A1 cho bà tiếp tục nuôi dưỡng. Bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Nguyễn Thị Lan A đã trưởng thành, bà không yêu cầu Toà án giải quyết về nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn – Ông Nguyễn Văn H được Toà án triệu tập hợp lệ, niêm yết các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt, không có lời khai thể hiện quan điểm giải quyết vụ án.
- Theo xác minh với tổ trưởng tổ dân phố G được biết: Bà Nguyễn Thị Hồng T và ông Nguyễn Văn H có đăng ký kết hôn và tổ chức hôn lễ theo phục tục tập quán tại địa phương. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống tại tổ dân phố G. Vài năm gần đây anh chị có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mẫu thuẫn cụ thể địa phương không nắm rõ nhưng được biết đến đầu năm 2023 thì chị T bỏ về nhà mẹ đẻ ở. Anh H và chị T có hai con chung đều đang ở cùng chị T.
- Theo xác minh với bà Phạm Thị Thà 1 mẹ đẻ của bà Nguyễn Hồng T được biết: Bà Nguyễn Thị Hồng T và ông Nguyễn Văn H có đăng ký kết hôn và tổ chức hôn lễ theo phục tục tập quán tại địa phương vào năm 1995. Sau khi cưới, bà H và ông T chung sống tại tổ dân phố G. Thời gian đầu bà T và ông H sống hạnh phúc. Đến khi sinh cháu đầu tiên thì có mâu thuẫn nhưng bà T vẫn nhẫn nhịn chung sống vì con. Đến năm 2022, mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm sống và ông H thường chửi bới vợ con, nên đến tháng 02/2023, bà T chuyển về sống cùng bà T1. Vợ chồng bà T ông H không còn liên lạc với nhau kể từ đó cho đến nay.
Tại phiên tòa, Bà Nguyễn Thị Hồng T là nguyên đơn trình bày: Bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng pháp luật. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 28, điều 35, điều 39; điều 147; điều 227; điều 228; điều 271; điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- + Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị Hồng T được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
- + Về con chung: Giao con chung Nguyễn Minh A1, sinh ngày 17/01/2009 cho bà Nguyễn Thị Hồng T nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết do đương sự không yêu cầu.
- + Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản không đặt ra xem xét.
- + Về án phí, bà T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn là ông Nguyễn Văn H có hộ khẩu thường trú tại thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa bà T và ông H là đảm bảo đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Do vậy, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và quy định tại Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt đối với ông H.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông H kết hôn ngày 02/11/1995 trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu. Tại thời điểm kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà T xác định vợ chồng chung sống có mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra tranh cãi. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông H không đến Tòa án làm việc theo triệu tập của Tòa án và không có quan điểm, ý kiến gì đối với nội dung vụ án. Tại biên bản xác minh với bà Phạm Thị Thà 1 mẹ đẻ của chị T cũng xác định vợ chồng anh chị mâu thuẫn, từ tháng 2/2023, hiện bà T đã chuyển về sinh sống cùng gia đình bố mẹ đẻ. Ngoài ra tại biên bản xác minh với tổ trưởng tổ dân phố thể hiện: Bà Nguyễn Thị Hồng T và ông Nguyễn Văn H có đăng ký kết hôn và tổ chức hôn lễ theo phục tục tập quán tại địa phương. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống tại tổ dân phố G. Vài năm gần đây anh chị có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mẫu thuẫn cụ thể địa phương không nắm rõ nhưng được biết đến đầu năm 2023 thì chị T bỏ về nhà mẹ đẻ ở. Anh H và chị T có hai con chung đều đang ở cùng chị T. Hội đồng xét xử thấy: Mâu thuẫn giữa vợ chồng là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và không thể hòa giải đoàn tụ gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của bà T và xử cho bà T được ly hôn ông H là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình.
[3] Về con chung: Bà T và ông H có 02 người con chung là Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 15/10/1996 và Nguyễn Minh A1, sinh ngày 17/01/2009. Cháu Nguyễn Thị Lan A đã trưởng thành, bà T không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Đối với cháu Nguyễn Minh A1, sinh ngày 17/01/2009, hiện nay đang ở cùng với bà T. Xét nguyện vọng của cháu Minh A1 muốn tiếp tục ở cùng mẹ và bà T cũng yêu cầu được nuôi con chung. Do vậy để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cháu Nguyễn Minh A1, cũng nhu đảm bảo cho sự phát triển ổn định về tâm sinh lý, cần thiết giao cháu Minh A1 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Bà T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14,ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hồng T được ly hôn ông Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh A1, sinh ngày 17/01/2009 cho bà Nguyễn Thị Hồng T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông H có quyền thăm nom con chung mình không trực tiếp nuôi dưỡng mà không ai được cản trở ông H thực hiện quyền này. Về cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hồng T phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Xác định bà T đã nộp đủ số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0002409 ngày 04/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Dương Đình Hưng |
Bản án số 68/2023/HNGĐ-ST ngày 24/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 68/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Th xin ly hôn anh H
