|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 68/2024/HS-ST Ngày 24 - 9 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Âu;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tiến Tịnh
Bà Hoàng Thị Thanh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham
gia phiên tòa: Ông Phạm Anh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân (TAND) huyện Đ, tỉnh Đắk Nông mở phiên tòa xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 09 năm 2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/Họ và tên: Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1960 tại tỉnh An Giang; Nơi đăng ký HKTT: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang; Chỗ ở trước khi phạm tội: Không có nơi ở nhất định; Trình độ học vấn: 01/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S và bà Võ Thị T1 (đều đã chết); Chồng là Nguyễn Trung N (đã ly hôn); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 39/HSST, ngày 21/4/1997 của Toà án nhân dân tỉnh Cần Thơ tuyên phạt 06 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân” (bị cáo đã được xoá án tích); Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 45/HSST, ngày 02/3/2005 của Toà án nhân dân Tp. Nam Định, tỉnh Nam Định tuyên phạt 42 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 42/2005/HSPT, ngày 04/5/2005 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định tuyên phạt bị cáo 36 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (bị cáo đã được xoá án tích); bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
2/ Họ và tên: Nguyễn S1, sinh năm 1970 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: Tổ dân phố G, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Lái xe ôm; Trình độ học vấn: 06/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn T2 và bà Lê Thị H (đều đã chết); Vợ là Hoàng Thị Y, sinh năm 1976 và 03 con, (con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2012); Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 20/2024/HSST, ngày 04/6/2024 của Toà án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế tuyên phạt 20.000.000 đồng về tội Đánh bạc. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông – Có mặt.
Bị hại:
- Ông Vũ Văn Q, sinh năm 1984 – Có mặt.
- Bà Lê Thị Thái H1, sinh năm 1983 – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Trần Thị Thùy O, sinh năm 1990 – Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông;
Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1985 – Vắng mặt.
- Ông Lý Văn Đ, sinh năm 1976 – Vắng mặt.
- Bà Trần Như N1, sinh năm 1979 – Vắng mặt.
- Ông Phạm Văn T4, sinh năm 1965 – Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Bích N2, sinh năm 1984 – Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1998 – Vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị Thủy T5, sinh năm 1992 – Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn A, xã K, huyện Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông;
Địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau;
Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông;
Địa chỉ: B đường T, khu phố A, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện V, tỉnh Bạc Liêu.
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang;
Địa chỉ: C Cách mạng tháng 8, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1990 – Vắng mặt.
- Bà Vũ Thị H2, sinh năm 1971 – Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông;
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, Nguyễn Thị Bích T đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của các đại lý thu mua nông sản bằng cách bán các loại nông sản như cà phê, hạt tiêu khô, hạt điều,... cho đại lý để tạo niềm tin và hứa hẹn bán với số lượng lớn hạt tiêu khô cho các đại lý để ứng tiền rồi chiếm đoạt tiêu xài cá nhân. Quá trình thực hiện hành vi, Nguyễn Thị Bích T nhờ Nguyễn S1 và Nguyễn Thị N3 (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) giả làm người thân gọi điện cho các bị hại cung cấp thông tin gian dối về khối lượng nông sản, địa chỉ giao hàng thì Nguyễn S1 và Nguyễn Thị N3 đồng ý. Với phương thức như trên, trong khoảng thời gian từ ngày 30/3/2024 đến ngày 22/4/2024, trên địa bàn huyện Đ và huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Thị Bích T và Nguyễn S1 đã thực hiện 02 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 02 bị hại, cụ thể:
* Vụ thứ 01: Vào khoảng 08 giờ ngày 28/3/2024, Nguyễn Thị Bích T mua 09kg hạt điều, 29kg hạt tiêu rồi đến đại lý thu mua nông sản H3 của chị Lê Thị Thái H1 và anh Vũ Văn Q tại thôn C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông bán được 3.000.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ ngày 29/3/2024, T mua 150kg hạt tiêu đựng trong 03 bao tải với giá 15.000.000 đồng của một đại lý nông sản ở huyện Đ, tỉnh Đắk Nông rồi gửi về huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Sau đó, Nguyễn Thị Bích T nhờ chị Nguyễn Thị T3 và anh Lý Văn Đ nhận và vận chuyển 02 bao tiêu đến đại lý H3. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, T đưa 09kg hạt điều đến đại lý H3 gửi cùng với 100kg hạt tiêu đã chở đến trước đó rồi đưa ra thông tin về việc bán 3,5 tấn tiêu cho anh Vũ Văn Q và hẹn giao hàng tại nhà ông Ú. Sau đó, T gọi điện thoại cho Nguyễn S1 và nói S1 gọi điện cho anh Q và chị H1 giả danh là ông Ú nói rằng sẽ bán 3,5 tấn hạt tiêu và hẹn giao hàng vào ngày 30/3/2024.
Đến khoảng 07 giờ ngày 30/3/2024, Nguyễn Thị Bích T gọi điện thoại cho chị H1 để ứng trước 78.200.000 đồng thì chị H1 đồng ý. Chị H1 nhờ chị Trần Thị Như N4 đưa 50.000.000 đồng cho T rồi chuyển 28.200.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 số [...] mang tên Lý Văn Đ do Thuỷ cung cấp. Số tiền T nhận được từ chị H1 là 78.200.000 đồng trong đó có 63.002.000 đồng là tiền T chiếm đoạt của chị H1. Sau khi nhận được tiền, T bỏ trốn và cho anh Lý Văn Đ 500.000 đồng, cho Nguyễn S1 8.000.000 đồng, còn lại T đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
* Vụ thứ 02: Vào ngày 22/4/2024, Nguyễn Thị Bích T điều khiển xe mô tô biển số 59H1 - 475.37 chở Nguyễn Thị N3 mua 06kg cà phê nhân, 10kg hạt tiêu khô và 21,5kg hạt điều tại các đại lý thu mua nông sản trên địa bàn huyện Đ.
Đến khoảng 12 giờ ngày 25/4/2024, T đưa 06kg cà phê nhân và 10kg hạt tiêu khô đến bán tại đại lý thu mua nông sản của chị Trần Thị Thùy O thuộc thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T đưa 21,5kg hạt điều đến gửi tại đại lý của chị O. Sau đó, Nguyễn Thị Bích T gọi điện thoại cho chị Trần Thị Thùy O hứa hẹn sẽ bán tiêu khô cho chị O thì chị O đồng ý. T gọi điện cho Nguyễn S1 hướng dẫn và nói S1 gọi điện thoại cho chị O giả làm chồng của T, đưa ra thông tin gian dối về khối lượng nông sản, địa chỉ giao hàng. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 26/4/2024, T đến gặp chị O ứng 10.000.000 đồng thì chị O đồng ý. T nói N3 giả danh làm con gái của T hẹn chị O đến địa điểm giao hàng còn T bỏ trốn và cho Nguyễn S1 2.000.000 đồng, còn lại T đã tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
Tại bản cáo trạng số 70/CT-VKS ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Bích T và Nguyễn S1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (gọi tắt là BLHS).
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện VKSND huyện Đắk Mil giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Thị Bích T và Nguyễn S1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 174 BLHS. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện VKSND huyện Đắk Mil đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn S1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46 BLHS; Điều 589 BLDS, buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích T bồi thường 8.000.000 đồng cho chị Phạm Thị Thùy O1; bồi thường 55.002.000 đồng cho chị Lê Thị Thái H1. Gia đình bị cáo Nguyễn S1 đã bồi thường cho bị hại Phạm Thị Thùy O1 2.000.000 đồng và bị hại Lê Thị Thái H1 8.000.000 đồng. Các bị hại không yêu cầu bị cáo Nguyễn S1 phải tiếp tục bồi thường nên HĐXX không xem xét.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:
- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại AirBlade biển số 59H1-475.37; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo T1x, màu đen, kiểu máy V2143, số sê-ri 3447637479000Al, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F9 màu tím số sê-ri AY7TSCBU5545IR6D, số imei 1 là 866376045638670, số imei 2 là 866376045638662; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, kiểu máy TA-1114, số imei 1 là 354176101521375, số imei 2 là 354176102521374, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Promax màu đen, số máy A2161, số sê-ri FK1ZHXWEN70C là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
- Tịch thu tiêu huỷ các sim số 0836.362.227 và 0979.381.872 là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội do không còn giá trị sử dụng.
Đối với Nguyễn Thị N3, cơ quan CSĐT công an huyện Đ chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên cơ quan CSĐT công an huyện Đ tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với Nguyễn Thị T3, anh Lý Văn Đ, do không biết bị cáo thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên không có căn cứ xử lý.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị Bích T, Nguyễn S1 không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo, các bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên toà sơ thẩm phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do ý thức coi thường pháp luật, muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ công sức lao động chính đáng của mình nên khoảng thời gian từ ngày 30/3/2024 đến ngày 22/4/2024, trên địa bàn huyện Đ và huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Thị Bích T và Nguyễn S1 đã đưa ra thông tin gian dối bằng cách giả bán nông sản để ứng tiền trước rồi chiếm đoạt tài sản của 02 bị hại, cụ thể:
- Vụ thứ 01: Vào ngày 30/3/2024, tại thôn C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Thị Bích T và Nguyễn Sơn g bán nông sản và ứng trước của chị Lê Thị Thái H1 và anh Vũ Văn Q số tiền 78.200.000 đồng, trong đó chiếm đoạt số tiền 63.002.000 đồng.
- Vụ thứ 02: Vào ngày 26/4/2024, tại thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Thị Bích T và Nguyễn Sơn g bán nông sản và ứng trước của Trần Thị Thùy O số tiền 10.000.000 đồng rồi chiếm đoạt.
Tổng số tiền Nguyễn Thị Bích T và Nguyễn S1 lừa đảo chiếm đoạt của các bị hại là 73.002.000 đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Bích T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn S1 đồng phạm với bị cáo Nguyễn Thị Bích T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 174 của BLHS với vai trò người giúp sức.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bích T và bị cáo Nguyễn S1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 2 Điều 174 của BLHS là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điểm a khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;”
[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương. Do bản chất lười lao động nhưng muốn có tiền tiêu xài, các bị cáo Nguyễn Thị Bích T và Nguyễn S1 đã đưa ra thông tin gian dối để chiếm đoạt tiền của các bị hại sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân. Vì vậy cần có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Bích T và bị cáo Nguyễn S1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo Nguyễn S1 đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại số tiền mà bị cáo đã nhận từ bị cáo T và được các bị hại bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo S1. Sau khi phạm tội, bị cáo S1 đã đầu thú. Do đó, bị cáo S1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.
[5] Về tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Thị Bích T và Nguyễn S1 thuộc trường hợp “Phạm tội từ 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS.
[6] Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo Nguyễn Thị Bích T đã 02 lần bị Toà án kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo Nguyễn S1 bị Toà án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế tuyên phạt 20.000.000 đồng về tội Đánh bạc.
Trong vụ án này, có hai bị cáo tham gia, tính chất mức độ, hành vi phạm tội của 02 bị cáo khác nhau nên HĐXX cần phân hoá vai trò của các bị cáo để có mức hình phạt phù hợp.
Bị cáo Nguyễn Thị Bích T có vai trò chính, là người chủ mưu và trực tiếp thực hiện hành vi lừa đảo các bị hại H1, O để chiếm đoạt tiền, cũng là người được hưởng lợi nhiều nhất. Bị cáo Nguyễn S1 không trực tiếp thực hiện mà chỉ giúp sức cho bị cáo T trong việc đưa ra thông tin gian dối nhằm tạo niềm tin cho các bị hại để các bị hại đồng ý giao tiền. Xét thấy, trong vụ án này, bị cáo T có vai trò cao nhất, do đó cần xử phạt bị cáo T mức hình phạt cao hơn bị cáo S1.
[7] Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là căn cứ và phù hợp nên HĐXX chấp nhận.
[8] Về bồi thường thiệt hại: Xét thấy, bị cáo Nguyễn Thị Bích T chưa bồi thường cho các bị hại. Bị hại chị Phạm Thị Thùy O1 yêu cầu bị cáo T phải bồi thường 8.000.000 đồng; chị Lê Thị Thái H1 yêu cầu bị cáo T bồi thường 55.002.000 đồng. Xét thấy, yêu cầu của các bị hại là phù hợp nên HĐXX chấp nhận, cần buộc bị cáo T phải bồi thường chị Phạm Thị Thùy O1 8.000.000 đồng và bồi thường cho chị Lê Thị Thái H1 và anh Vũ Văn Q 55.002.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn S1 đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Phạm Thị Thùy O1 2.000.000 đồng và bị hại Lê Thị Thái H1 8.000.000 đồng. HĐXX chấp nhận việc tự nguyện bồi thường của gia đình bị cáo Nguyễn S1 cho các bị hại. Các bị hại không yêu cầu bị cáo Nguyễn S1 phải bồi thường thêm nên HĐXX không xem xét.
[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Thị Bích T không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo Nguyễn S1 tham gia vụ án với vai trò giúp sức nên xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[10] Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại AirBlade biển số 59H1-475.37; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo T1x, màu đen, kiểu máy V2143, số sê-ri 3447637479000A1, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F9 màu tím số sê-ri AY7TSCBU5545IR6D, số imei 1 là 866376045638670, số imei 2 là 866376045638662; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, kiểu máy TA-1114, số imei 1 là 354176101521375, số imei 2 là 354176102521374, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Promax màu đen, số máy A2161, số sê-ri FK1ZHXWEN70C là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với các sim số 0836.362.227 và 0979.381.872 là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với các căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Bích T và Nguyễn S1, xét thấy đây là giấy tờ tuỳ thân của các bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.
Đối với Nguyễn Thị N3, cơ quan CSĐT công an huyện Đ chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên cơ quan CSĐT công an huyện Đ tiếp tục xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Đối với Nguyễn Thị T3, anh Lý Văn Đ, do không biết bị cáo thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên Cơ quan CSĐT công an huyện Đ không có căn cứ xử lý là phù hợp.
[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (DSST) và án phí hình sự sơ thẩm (HSST) theo quy định của pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Bích T, Nguyễn S1 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo nguyễn Thị Bích T6 04 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 11/5/2024.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn S1 02 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 13/5/2024.
- Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích T phải bồi thường cho chị Phạm Thị Thùy O1 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng); phải bồi thường cho chị Lê Thị Thái H1 và anh Vũ Văn Q 55.002.000 đồng (Năm mươi lăm triệu không trăm linh hai nghìn đồng).
Chấp nhận việc gia đình bị cáo Nguyễn S1 đã bồi thường cho chị Lê Thị Thái H1 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng); bồi thường cho chị Phạm Thị Thùy O1 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 248 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại AirBlade biển số 59H1-475.37; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo T1x, màu đen, kiểu máy V2143, số sê-ri 3447637479000Al, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo F9 màu tím số sê-ri AY7TSCBU5545IR6D, số imei 1 là 866376045638670, số imei 2 là 866376045638662; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, kiểu máy TA-1114, số imei 1 là 354176101521375, số imei 2 là 354176102521374, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 11 Promax màu đen, số máy A2161, số sê-ri FK1ZHXWEN70C.
- Tịch thu tiêu huỷ các sim số 0836.362.227 và 0979.381.872.
- Trả lại căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Bích T cho bị cáo Nguyễn Thị Bích T; trả lại căn cước công dân mang tên Nguyễn S1 cho bị cáo Nguyễn S1.
(Đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đắk Mil).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a, c khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 của nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích T phải nộp 3.150.000₫ (Ba triệu một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí DSST và 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
Bị cáo Nguyễn S1 phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
*/ Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký và đóng dấu) Nguyễn Thị Hải Âu |
Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 68/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lừa đảo chiếm đoạt tài sản
