|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2024/HS-ST Ngày: 24/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Bà Nguyễn Thị Thúy Huyền |
| - Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Vũ Xuân Kiều |
| Bà Đàm Thị Thanh Thủy |
Thư ký phiên toà: Bà Tô Thị Lan Phương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Minh Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 8 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HS ngày 6/6/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý Hải A (Li Hai Y), tên gọi khác: không; sinh ngày 07/4/1985 tại Trung Quốc; thẻ CCCD số 362301198504071041, ngày cấp: 08/04/2013, nơi cấp: Trung Quốc; sổ thông hành số R05457426 cấp ngày 14/9/2023; nơi ĐKNKTT: Số A Du Ô T, tổ B T, thị trấn S, quận T, thành phố T, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc; nơi tạm trú: Số C T, đường G, thành phố Đ, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc; nơi ở hiện tại: Phòng 2401, toà 19 chung cư S, số A đường H, thành phố Đ, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Hán; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Trung Quốc; con ông Li Yun H (đã chết) và bà: Xu Feng X; có chồng là Xu J và 02 con, con lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt quả tang ngày 24/01/2024; hiện đang tạm giam, có mặt tại phiên tòa.
- Người phiên dịch: Bà Phạm Thị Thùy N, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ A, khu F, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; trình độ: Đại học Tiếng Trung Quốc. Có mặt.
- Người làm chứng: Bà Hoàng Thị N1, sinh năm 1979; nơi cư trú: số nhà I, ngõ B, đường T, khu C, phường H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ năm 2015, Lý Hải A (Li Hai Y) thuê ki ốt số 98 ở chợ B thành phố M, tỉnh Quảng Ninh để buôn bán dụng cụ thể thao môn cầu lông. Lý Hải A thuê chị Hoàng Thị N1 (trú tại khu C, phường H, thành phố M) trông coi, bán hàng. Lý Hải A thường xuất, nhập cảnh từ Trung Quốc vào Việt Nam và ngược lại qua Cửa khẩu quốc tế M bằng hộ chiếu và giấy thông hành. Khoảng 10 giờ ngày 24/01/2024, Lý Hải A nhập cảnh vào Việt Nam qua Cửa khẩu quốc tế M bằng Sổ thông hành số R05457426 do Cục Q cấp ngày 14/9/2023.
Sau khi nhập cảnh, Lý Hải A đến quầy ki ốt số 98 bảo chị Hoàng Thị N1 rút 100.000.000 đồng và 20.000 CNY (Nhân dân tệ) tiền bán hàng đưa cho Lý Hải A. Chị N1 ra máy ATM của Ngân hàng V rút số tiền 100.000.000 đồng từ tài khoản số 0551000301369 của chị N1 cùng với 20.000 CNY chị N1 lấy ở cửa hàng đưa cho Lý Hải A. Lý Hải A cất giấu tiền vào trong người rồi di chuyển ra Cửa khẩu quốc tế M mục đích xuất cảnh về Trung Quốc. Hồi 11 giờ 30 phút ngày 24/01/2024, Lý Hải A đến khu vực khai báo làm thủ tục Hải quan Cửa khẩu Quốc tế M, Lý Hải A không thực hiện việc khai báo hải quan về số tiền đem theo mà đưa hành lý qua máy soi chiếu rồi đi về hướng làm thủ tục xuất cảnh của L thì bị Tổ công tác của lực lượng Hải quan cửa khẩu Quốc tế M phối hợp với Đồn biên phòng cửa khẩu Quốc tế M kiểm tra phát hiện, bắt quả tang về hành vi vận chuyển trái phép tiền tệ từ Việt Nam sang Trung Quốc. Vật chứng thu giữ: 100.735.000 đồng Việt Nam, 20.885,5 CNY, 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, 01 sổ thông hành, 01 căn cước công dân mang tên Li Hai Y.
Tại Kết luận giám định số 196/KL-KTHS ngày 30/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Q kết luận: 200 tờ tiền Việt Nam loại 500.000 VNĐ; 07 tờ tiền Việt Nam loại 100.000 VNĐ; 01 tờ tiền Việt Nam loại 20.000 VNĐ; 01 tờ tiền Việt Nam loại 10.000 VNĐ; 01 tờ tiền Việt Nam loại 5.000 VNĐ; 204 tờ tiền Trung Quốc loại 100 YUAN là tiền thật; các tờ tiền còn lại vì không có mẫu so sánh nên không giám định.
Tại Kết luận giám định số 990/KL-KTHS ngày 09/4/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận: Các tờ tiền Trung Quốc do Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Q gửi giám định: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5 WUJIAO; 03 (ba) tờ tiền mệnh giá 5 YUAN; 16 (mười sáu) tờ tiền mệnh giá 10 YUAN; 08 (tám) tờ tiền mệnh giá 20 YUAN; 03 (ba) tờ tiền mệnh giá 50 YUAN là tiền thật.
Công văn số 333/QUN1 ngày 20/4/2024 của Ngân hàng N2 – Chi nhánh tỉnh Q cung cấp: Tỷ giá chéo của Đ với một số ngoại tệ để xác định trị giá tính thuế có hiệu lực từ ngày 18/01/2024 đến 24/01/2024 là: 1 CNY = 3.337,22 VNĐ.
Đối chiếu với quy định tại điều 4 Quyết định số 92/2000/QĐ-NHNN7 ngày 17/3/2000, của Thống đốc Ngân hàng N2 về việc mang ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam bằng tiền mặt đối với cá nhân xuất nhập cảnh bằng giấy thông hành xuất nhập cảnh hoặc giấy chứng minh biên giới, bị can Lý Hải A được mang ngoại tệ tiền mặt có giá trị tương đương 6000CNY và 10 triệu đồng Việt Nam. Tổng số tiền Lý Hải A vận chuyển qua biên giới Việt Nam sang Trung Quốc là 100.735.000 đồng, 20.885,5 CNY, trong đó số tiền vận chuyển trái phép qua biên giới là: 90.735.000 đồng (chín mươi triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn đồng) và 14.885,5 CYN (mười bốn nghìn tám trăm tám mươi lăm phẩy năm Nhân dân tệ) tương đương 49.676.188,31 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Lý Hải A (Li Hai Y) khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lý do Lý Hải A cất giấu số tiền trên vào nhiều vị trí trên người là để trốn tránh phải khai báo việc đem theo tiền với lực lượng Hải quan Việt Nam.
Bản cáo trạng số: 1293/CT-VKSQN-P3 ngày 6/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Lý Hải A về tội “vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” theo quy định tại khoản 1 Điều 189 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo có lời khai tương tự quá trình điều tra, thừa nhận hành vi phạm tội như quy kết của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, viện dẫn các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội, phân tích tính chất, mức độ hành vi, đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Hải A (Li Hai Y) phạm tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới”; Áp dụng: khoản 1, khoản 4 Điều 189; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt: bị cáo Lý Hải A (Li Hai Y) 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2024. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.
Phạt bị cáo Lý Hải A (Li Hai Y) 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng:
Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI; 01 sổ thông hành số R05457426; 01 căn cước công dân mang tên Lý Hải A; 6000 CYN (sáu nghìn nhân dân tệ).
Trả lại cho bị cáo Lý Hải A (Li Hai Y) 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 90.735.000đ (chín mươi triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn đồng) và 14.885,5 CYN (mười bốn nghìn tám trăm tám mươi lăm phẩy năm Nhân dân tệ) tương đương 49.676.188,31 đồng. Đồng thời, đề nghị buộc bị cáo có nghĩa vụ chịu án phí theo qui định.
Bị cáo Lý Hải A không tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo Lý Hải A trình bày xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm có cơ hội trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị cáo Lý Hải A (Li Hai Y) là người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, căn cứ khoản 2 Điều 268 Bộ luật tố tụng hình sự thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
[3] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai báo của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các kết luận giám định và các tài liệu khác đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử thấy: Ngày 24/01/2024 bị cáo Lý Hải A xuất cảnh từ Việt Nam về Trung Quốc tại Cửa khẩu Quốc tế M bằng sổ thông hành, bị cáo vận chuyển qua biên giới Việt Nam sang Trung Quốc tổng số tiền là 100.735.000 đồng, 20.885,5 CNY và không thực hiện khai báo hải quan theo quy định. Đối chiếu với quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 4 Quyết định số 92/2000/QĐ-NHNN7 ngày 17/3/2000 của Thống đốc Ngân hàng N2 về việc mang ngoại tệ, tiền mặt, đồng Việt Nam bằng tiền mặt đối với cá nhân xuất nhập cảnh bằng giấy thông hành xuất nhập cảnh hoặc giấy chứng minh biên giới thì bị cáo chỉ được phép mang không quá 6000 CNY và 10.000.000 đồng, trên mức tiền nêu trên là phải khai báo hải quan cửa khẩu. Như vậy, bị cáo đã có hành vi vận chuyển trái phép số tiền 90.735.000đ (chín mươi triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn đồng) và 14.885,5 CYN (mười bốn nghìn tám trăm tám mươi lăm phẩy năm Nhân dân tệ) tương đương 49.676.188,31 đồng từ Việt Nam sang Trung Quốc.
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh truy tố bị cáo với tội danh và điều luật như thể hiện tại bản cáo trạng số: 1293/CT-VKSQN–P3 ngày 6/5/2024 là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo Lý Hải A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” theo quy định tại khoản 1 Điều 189 Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách quản lý tiền tệ của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bị cáo là người buôn bán tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh từ năm 2015, thường xuyên qua lại biên giới Việt Nam – Trung Quốc nên cần phải nhận thức được hành vi mang ngoại tệ, tiền mặt, đồng Việt Nam bằng tiền mặt đối với cá nhân xuất nhập cảnh bằng giấy thông hành xuất nhập cảnh hoặc giấy chứng minh biên giới phải đáp ứng các quy định của pháp luật Việt Nam và Trung Quốc. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lý Hải A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người nước ngoài, nhận thức về các quy định của pháp luật Việt Nam có phần hạn chế; bản thân bị cáo cũng là người dân buôn bán, lao động góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội của hai nước phát triển, do đó cần có chính sách nhân đạo, khoan hồng đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm thể hiện mối quan hệ ngoại giao giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét và quyết định giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xử bị cáo mức hình phạt tù bằng thời gian đã tạm giam cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe; đồng thời cần trục xuất bị cáo rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi chấp hành xong hình phạt.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có thu nhập từ hoạt động kinh doanh, buôn bán nên cần phạt bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
[7] Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra thu giữ của bị cáo Lý Hải A: 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI; 01 sổ thông hành số R05457426; 01 căn cước công dân mang tên Lý Hải A không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
Đối với số tiền 90.735.000đ (chín mươi triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn đồng) và 14.885,5 CYN (mười bốn nghìn tám trăm tám mươi lăm phẩy năm Nhân dân tệ) tương đương 49.676.188,31 đồng, bị cáo vận chuyển trái phép cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) và 6.000 CYN (sáu nghìn nhân dân tệ) là số tiền của bị cáo được phép mang khi xuất nhập cảnh qua biên giới Việt Nam – Trung Quốc bằng sổ thông hành, cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[8] Các vấn đề khác
Đối với chị Hoàng Thị N1 là người bán hàng thuê và đưa tiền theo yêu cầu của Lý Hải A (Li Hai Y), nhưng không biết Lý Hải A (Li Hai Y) cất giấu đem qua biên giới, nên hành vi không cấu thành tội phạm. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết các vấn đề nêu trên trong bản án này.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố: Bị cáo Lý Hải A (Li Hai Y) phạm tội “Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới”
Áp dụng: khoản 1, khoản 4 Điều 189; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 37 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lý Hải A (Li Hai Y) 05 (năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2024. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.
Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Lý Hải A (Li Hai Y) nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Trục xuất bị cáo Lý Hải A (Li Hai Y) rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi chấp hành xong hình phạt.
Phạt bị cáo Lý Hải A (Li Hai Y) 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung công quỹ Nhà nước.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 90.735.000đ (chín mươi triệu bảy trăm ba mươi lăm nghìn đồng) và 14.885,5 CYN (mười bốn nghìn tám trăm tám mươi lăm phẩy năm Nhân dân tệ) tương đương 49.676.188,31 đồng.
Trả lại cho bị cáo Lý Hải A (Li Hai Y) số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) 6.000 CYN (sáu nghìn nhân dân tệ) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Toàn bộ số tiền tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước, trả lại cho bị cáo thể hiện tại Phiếu nhập kho gói gửi số 1435+1436 ngày 22/4/2024 của Kho bạc Nhà nước tỉnh Q (BL 173).
Trả cho bị cáo Lý Hải A: 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI; 01 sổ thông hành số R05457426; 01 căn cước công dân mang tên Lý Hải A ((Toàn bộ vật chứng tuyên trả thể hiện theo Biên bản giao nhận vật chứng số 82, ngày 7/5/2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC03) Công an tỉnh Q và Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh).
[2] Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lý Hải A (Li Hai Y) phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[3] Về quyền kháng cáo: án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Huyền |
Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới)
- Số bản án: 68/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Hải A - Vận chuyển TP tiền tệ qua biên giới
