Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24-5-2024

V/v: Không công nhận quan hệ vợ

chồng, tranh chấp về nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đăng Thanh; Ông Giáp Văn Phẩm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Diệp Văn Vĩ, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Hoàng Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số:157/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 về việc “không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:63/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1984 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1982 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 27/12/2023 và những lời khai tiếp theo, tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn D kết hôn với nhau vào năm 2002, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, tuy nhiên từ thời gian đó cho đến nay vợ chồng không đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn. Cưới xong vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại thôn T, xã N, huyện L. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong phát triển kinh tế và nuôi dậy con, thường xuyên xảy ra to tiếng, anh D không quan tâm gì đến vợ con. Vợ chồng đã sống ly thân nhau một thời gian dài. Nay chị thấy vợ chồng không thể đoàn tụ được nữa, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nên yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh Nguyễn Văn D.

Về con chung: Vợ chồng có ba con chung là Nguyễn Thị Kim N1 – sinh ngày 13/10/2003, cháu Nguyễn Thị Ngân H, sinh ngày 25/01/2006, cháu Nguyễn Thị Hà G, sinh ngày 14/7/2008. Ly hôn hai cháu N1, H đã trưởng thành có cuộc sống riêng chị không yêu cầu giải quyết. Đối với cháu G hiện nay chưa trưởng thành vẫn đang sống chung với chị, nguyện vọng của cháu G ở với ai thì chị sẽ tôn trọng quyền quyết định của cháu. Trường hợp Tòa án giao con cho chị nuôi chị không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn D Trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh xác định lời trình bày trên của chị N là đúng về thời gian hai anh chị về chung sống với nhau và không có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng có xẩy ra nhiều mâu thuẫn và nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn như chị N trình bày trên là đúng. Nay chị N yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh và chị N, anh đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có ba con chung như chị N trình bày là đúng, hiện nay còn cháu Nguyễn Thị Hà G chưa đủ 18 tuổi, anh đồng ý để chị N nuôi dưỡng cháu G.

- Về tài sản, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Lời khai của cháu Nguyễn Thị Hà G: Hiện nay cháu G đang học lớp 10 và đang ở cùng mẹ, bố mẹ ly hôn, nguyện vọng của cháu được ở cùng mẹ.

Tại phiên tòa chị N và anh D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 9; Điều 14; Điều 15; Điều 51; Điều 53; Điều 81; Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị N: Không công nhận chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn D là vợ chồng.

-Về con chung: Giao cho Phạm Thị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thị Hà G – sinh ngày 14/7/2008. Việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về án phí: Áp dụng Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc chị N chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phạm Thị N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với anh Nguyễn Văn D. Bị đơn hiện đang sinh sống và ở tại thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy: Chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không đăng ký kết hôn tại UBND cấp có thẩm quyền. Trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Căn cứ theo lời khai của các đương sự và qua xác minh tại địa phương thì chị N và anh D chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2004, không đăng ký kết hôn vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh D không được pháp luật công nhận, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Trong thời gian chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Chị N làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh D. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị N và anh D.

[4] Về con chung: Chị N và anh D có ba con chung nhưng hai con đã trên 18 tuổi nên không đặt ra xem xét giải quyết. Đối với cháu G, hiện nay cháu đang ở với chị N, cuộc sống của cháu được đảm bảo và nguyện vọng của cháu ở cùng với mẹ; anh D cũng đồng ý để chị N trực tiếp nuôi cháu G nên cần giao cháu G cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 15, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết do các bên đương sự không yêu cầu.

[5] Về tài sản chung, công nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu giải quyết tài sản, công nợ nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[6]Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án giữa chị N và anh D phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227;Điều 228;Điều 238;Điều 271; Điều 273; Điều 280của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 9; Điều 14; Điều 15; Điều 51; Điều 53; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

  1. Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Phạm Thị N và anh Nguyễn Văn D.
  2. Về con chung: Giao chị Phạm Thị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Hà G, sinh ngày 14/7/2008. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Văn D được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở thực hiện quyền này.
  3. Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006098 ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị Phạm Thị N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được tống đạt bản án.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - UBND xã Nam Dương;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Cổng thông tin điện tử tòa án;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con chung

  • Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không công nhận vợ chồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger