Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH GIA LAI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 68/2024/DS-PT
Ngày 24/6/2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Thưởng

Ông Lê Đình Nam

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Trà My, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Hoàng Hải Ly - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 25/2024/TLPT-DS ngày 08 tháng 4 năm 2024 về "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản".

Do bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 73/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 146/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Liên H; địa chỉ: A Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Cửu Thị T; địa chỉ: E Đ, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt
  3. Người kháng cáo: bà Nguyễn Cửu Thị T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Hồ Thị Liên H trình bày:

Do có mối quan hệ quen biết làm ăn với nhau đã lâu nên bà Nguyễn Cửu Thị T đã nhiều lần vay tiền của bà Hồ Thị Liên H số tiền vay tổng cộng 2.200.000.000 đồng, cụ thể các lần vay như sau:

Ngày 02/9/2021 vay 450.000.000đ, ngày 25/9/2021 vay 300.000.000đ, ngày 29/9/2021 vay 300.000.000đ, ngày 10/10/2021 vay 1.000.000.000đ và ngày 02/11/2021 vay 150.000.000đ. Lãi suất hai bên thỏa thuận là 3%/ tháng. Tất cả những lần vay đều không ghi thời hạn nhưng hai bên có thỏa thuận bà T vay đỡ một thời gian ngắn để trả tiền hàng, bà T đã trả lãi đến hết tháng 11/2022 thì bà T không trả lãi, còn tiền gốc chưa trả đồng nào. Bà H đã nhiều lần đòi nợ nhưng bà T không trả nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T trả cho bà H toàn bộ nợ gốc 2.200.000.000đ, lãi suất kể từ tháng ngày 01/12/2022 theo mức lãi suất 20%/năm đến ngày xét xử 30/01/2024 và phải trả lãi cho đến khi trả xong nợ gốc. Bà T đã trả cho bà H theo mức lãi suất 3%/tháng = 36%/năm kể từ ngày vay tổng số tiền là 936.650.000 đồng (có bảng kê tính lãi kèm theo). Nếu tính lãi suất thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm số tiền lãi là 520.361.111 đồng vậy số tiền lãi vượt là 936.650.000 đồng - 520.361.111 đồng = 416.288.889 đồng. Khi khởi kiện bà H yêu cầu bà T phải trả nợ gốc gốc là 2.200.000.000 đồng và lãi suất 1,67%/tháng cho đến khi trả nợ xong, nay bà H thay đổi yêu cầu là bà H đồng ý trừ đi số tiền lãi vượt so với quy định của pháp luật đề trừ vào số tiền nợ gốc cụ thể là 2.200.000.000 đồng – lãi vượt số tiền 416.288.889₫ = 1.783.711.111 đồng. Nay bà H yêu cầu bà T phải trả nợ gốc là 1.783.711.111 đồng và nợ lãi lãi suất 20% năm, tính từ ngày 01/12/2022 đến ngày xét xử ngày 30/01/2024 là 421.154.012 đồng và trả nợ lãi cho đến khi trả nợ xong.

* Bị đơn bà Nguyễn Cửu Thị T trình bày: Bà T công nhận có viết và ký vào 05 “Giấy mượn tiền” của bà H và bà T còn nợ số tiền gốc là 2.200.000.000đ. Tuy nhiên số nợ này là nợ từ năm 2019 chứ không phải nợ của năm 2021 như ngày viết trong 05 giấy mượn tiền: 05 tờ giấy mượn tiền mới 2021 có 04 giấy viết lại thay thế cho 04 tờ giấy cũ 2019 (bà H yêu cầu bà T viết lại). Cụ thể như sau:

  • Món vay ngày 02/9/2021 số tiền 450.000.000₫ là của Giấy mượn tiền ngày 02/12/2019 vay 350.000.000 đồng, đến ngày 02/9/2021 vay thêm 100.000.000đ, tổng cộng 450.000.000₫.
  • Món vay ngày 25/9/2021 số tiền 300.000.000₫ là của Giấy mượn tiền ngày 25/10/2019.
  • Món vay ngày 29/9/2021 số tiền 300.000.000₫ là của Giấy mượn tiền ngày 29/11/2019.
  • Món vay ngày 10/10/2021 số tiền 1.000.000.000 đồng là của Giấy mượn tiền ngày 10/01/2020.
  • Món vay ngày 02/11/2021 số tiền 150.000.000 đồng (là món vay chính xác ngày hôm 02/11/2021 không viết lại giấy).

04 Giấy mượn tiền năm 2019 cũ bà T đã gạch chéo do đã viết lại Giấy mượn tiền mới thay thế giấy cũ, 04 Giấy mượn tiền cũ này bà H đã đưa lại cho bà T và bà T còn lưu giữ và bà T cũng đã nộp cho tòa làm chứng cứ để chứng minh. Bà T đã trả lãi cho bà H từ tháng 10 năm 2019 đến 30/11/2022 tổng số tiền 2.188.500.000 đồng, lãi suất tính 3%/tháng (bà T trả lãi liên tục không ngắt quãng).

Trong đó chuyển khoản 1.667.400.000 đồng (chuyển khoản này bà T đã sao kê nộp cho tòa), trả tiền mặt 521.100.000 đồng (không ghi giấy tờ). Bà T trả lãi cho cho bà H đến ngày 30 tháng 11 năm 2022. Từ tháng ngày 01 tháng 12 năm 2022 đến nay thì bà T không trả lãi vì không có khả năng trả.

Bà T yêu cầu Tòa án xem xét phần lãi suất vượt quá quy định của pháp luật ( bà T trả lãi 36/%/năm vượt quá 26% có nghĩa là bà H chỉ được tính lãi 10%/năm), cụ thể số tiền vượt là 1.583.015.000đ, yêu cầu số tiền vượt này trừ vào tiền gốc, nên bà T còn nợ gốc 616.985.000₫ bà T đồng ý trả cho bà H số nợ gốc là 616.985.000 đồng, còn nợ lãi thì do bà T không còn khả năng trả nợ nên không đồng ý trả lãi.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DSST ngày 30 tháng 01 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Liên H.

  • Buộc bà Nguyễn Cửu Thị T phải trả cho bà Hồ Thị Liên H tiền nợ gốc là 1.783.711.111 đồng.
  • Về lãi suất: Buộc bà Nguyễn Cửu Thị T phải trả cho bà Hồ Thị Liên H số tiền lãi 20%/năm tính từ ngày 01/12/2022 đến ngày xét xử ngày 30/01/2024 là 421.154.012 đồng và phải trả lãi đến khi trả nợ xong.

Tổng nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày 30/01/2024 bà Nguyễn Cửu Thị T phải trả cho bà Hồ Thị Liên H số tiền là 2.204.865.123 đồng.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm; tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

* Ngày 01 tháng 02 năm 2024, bị đơn bà Nguyễn Cửu Thị T có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ giải quyết vụ án vì nguyên đơn chưa đủ điều kiện khởi kiện; đề nghị xem xét lại phần lãi xuất; Tòa án cấp sơ thẩm không tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 21/12/2023 là ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn.

* Diễn biến tại phiên toà phúc thẩm: nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

* Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Kháng cáo của bị đơn đảm bảo đúng thủ tục, nội dung và nộp trong thời hạn theo quy định của pháp luật nên được xem xét, xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2]. Xét kháng cáo của bị đơn, thấy rằng:

[2.1]. Từ ngày 02/9/2021 đến ngày 02/11/2021, nguyên đơn và bị đơn xác lập 05 hợp đồng vay tiền, có thỏa thuận về lãi suất nhưng không thỏa thuận về thời gian trả nợ. Do vậy đây là hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn và có lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 469 Bộ luật dân sự. Khoản 2 Điều 469 Bộ luật dân sự quy định: Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý. Mục đích của việc quy định thông báo cho người vay một thời gian hợp lý chỉ để xác định việc chấm dứt hợp đồng vay tài sản khi một trong các bên có đủ điều kiện chấm dứt hợp đồng vay tài sản trước thời hạn và cũng đồng nghĩa với việc xác định lãi suất từ thời điểm nào nếu bên vi phạm chậm trả. Mặt khác các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm thể hiện: Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, bị đơn chỉ trả lãi đến ngày 30/11/2022 thì không trả nữa. Nguyên đơn đã yêu cầu bị đơn trả nợ gốc và lãi nhiều lần nhưng bị đơn không thực hiện, do đó ngày 20/3/2023 nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi là có căn cứ. Bị đơn kháng cáo cho rằng nguyên đơn chưa đủ điều kiện khởi kiện là không đúng quy định của pháp luật.

[2.2]. Về yêu cầu tính lại phần lãi suất đã trả.

Xét các bên thỏa thuận lãi suất trong hợp đồng vay là 3%/tháng, tương đương với 36%/năm là vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Do vậy mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực, số tiền lãi trả vượt được trừ vào tiền nợ gốc tại thời điểm trả lãi. Trên thực tế bị đơn đã trả lãi cho nguyên đơn với mức 3%/tháng từ ngày 02/9/2022 đến ngày 30/11/2022 là 936.650.000đ (có bảng tính lãi kèm theo hồ sơ); số tiền lãi đã trả vượt so với quy định của pháp luật là 416.288.889₫. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã trừ vào tiền nợ gốc 2.200.000.000₫ - 416.288.889đ = 1.783.711.111đ là đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn. Ngoài ra bị đơn còn cho rằng các hợp đồng vay từ năm 2021 xuất phát từ các hợp đồng vay từ năm 2019 và đã trả lãi liên tục từ năm 2019. Tuy nhiên các tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện các khoản vay từ năm 2019 các bên thống nhất đã thanh toán xong, gạch bỏ, đồng thời xác lập hợp đồng vay mới từ năm 2021. Mặt khác, nguyên đơn chỉ khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ gốc và lãi của các hợp đồng vay năm 2021, không liên quan đến các hợp đồng vay trước đó.

[2.3]. Về kháng cáo cho rằng bị đơn không nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2023/QĐXXST-DS ngày 30/11/2023. Tại hồ sơ vụ án, bút lục 245 thể hiện Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện việc tống đạt nhưng bị đơn không ký nhận nên đã lập văn bản “Biên bản về việc không thực hiện được việc tống đạt văn bản tố tụng” có sự chứng kiến và xác nhận của chính quyền địa phương. Mặc khác, ngày xét xử lần đầu của quyết định nêu trên là 21/12/2023 do bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử sơ thẩm đã hoãn phiên tòa và ấn định ngày xét xử khác, do đó quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn vẫn không bị ảnh hưởng.

[3]. Từ phân tích ở các mục [2.1], [2.2] và [2.3], Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

[4]. Về án phí: Do cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Cửu Thị T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
  2. Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Cửu Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000₫ theo biên lai số 0001280 ngày 05/2/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Bà T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND thành phố Pleiku;
  • - Chi cục THADS thành phố Pleiku;
  • - Đương sự;
  • - Lưu Tòa, lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đặng Chí Công
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/DS-PT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 68/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger