|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24/4/2024
Về việc: “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thế Trang Đền.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Phú Chánh Thể.
- 2. ông Nguyễn Thanh Khoa.
- - Thư ký phiên toà: ông Phan Thành Trung, Thư ký Toà án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm: Bà Huỳnh Thị Duyên Em - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 383/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, Tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 93/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05/4/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Châu Ngọc Q, sinh năm: 1986.
- Địa chỉ: 10/75, ấp S, xã S, huyện C, tỉnh Bến Tre.
- - Bị đơn: Ông Võ Đức T, sinh năm: 1985.
- Địa chỉ: ấp Q, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 14/8/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Châu Ngọc Q trình bày:
Bà và bị đơn là ông Võ Đức T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre, vào ngày 04/4/2019. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được khoảng 04 năm sau đó thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, từ đó vợ chồng tự chia tay và sống ly thân với nhau từ đầu năm 2023 cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nữa nên bà có yêu cầu ly hôn với ông T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà và ông T có 01 con chung là Võ Đức T1, sinh ngày: 14/10/2022, hiện con chung do bà đang trực tiếp nuôi dưỡng. Bà có yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không có yêu cầu ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do bận việc làm ăn, bà không thể đến Tòa án giải quyết việc ly hôn của bà và ông T được nên bà có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, bà không có khiếu nại.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã thông báo và tổ chức các phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông T đều vắng mặt không lý do.
Do không thể tiến hành hòa giải được, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm đã đưa vụ án ra xét xử vào ngày 05 tháng 4 năm 2024, ông T vắng mặt.
Tại phiên tòa sơ thẩm được mở lại vào ngày hôm nay, ông T vẫn vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Thẩm phán đã xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, đúng quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ trong quá trình tố tụng. Thẩm phán đảm bảo đúng theo thời gian giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật, vô tư, khách quan. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Châu Ngọc Q. Bà Châu Ngọc Q và ông Võ Đức T được ly hôn.
Về con chung: Bà Q và ông T có 01 con chung là Võ Đức T1, sinh ngày: 04/4/2019. Hiện con chung do bà Q là người trực tiếp nuôi dưỡng ổn định, đảm bảo quyền và lợi ích cho trẻ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Q về việc tiếp tục trực tiếp nuôi con chung chưa thành niên.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ông T không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do bà Q không có yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Đối với bà Châu Ngọc Q là nguyên đơn trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Võ Đức T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Q và ông T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Q và ông T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre, vào ngày 04/4/2019 nên quan hệ hôn nhân của ông bà được coi là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Sau kết hôn, bà Q và ông T cùng chung sống với nhau hạnh phúc, sau đó xảy ra mâu thuẫn. Theo bà Q thì nguyên nhân chính xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, từ đó vợ chồng tự chia tay và sống ly thân với nhau khoảng hơn 01 năm, không có thời gian đoàn tụ.
Hội đồng xét xử xét thấy bà Q và ông T đã sống ly thân với nhau, từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay, ông bà không còn quan tâm chăm sóc nhau như vợ như chồng. Do bà Q không còn tình cảm vợ chồng với ông T nữa nên bà có yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T. Tòa án đã động viên bà Q trở về cùng đoàn tụ với ông T nhưng bà Q không đồng ý vẫn cương quyết xin ly hôn với ông T.
Xét thấy tình trạng hôn nhân của bà Q và ông T đã trầm trọng, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Q là phù hợp.
- Về con chung: bà Q và ông T 01 con chung là Võ Đức T1, sinh ngày: 14/10/2022. Hiện con chung do bà Q là người trực tiếp nuôi dưỡng ổn định, đảm bảo quyền và lợi ích cho trẻ. Mặt khác, theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình thì con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định và không nên làm xáo trộn về tâm lý của trẻ nên cần giao con chung chưa thành niên cho bà Q được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Ông T không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chưa thành niên do bà Q không yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Q khai không có, không có tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do ông T không đến Tòa để giải quyết về việc ly hôn nên không xem xét được ông T có yêu cầu về việc tranh chấp tài sản chung và nợ chung hay không. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- Về án phí: bà Q phải chịu án phí Hôn nhân gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84; Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Châu Ngọc Q được ly hôn với ông Võ Đức T.
- Về con chung: Bà Châu Ngọc Q và ông Võ Đức T 01 con chung là Võ Đức T1, sinh ngày: 14/10/2022. Giao con chung cho bà Q tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do bà Q không có yêu cầu.
Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở ông T thực hiện quyền này.
Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định thay đổi việc cấp dưỡng cho con.
Trong trường hợp có yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc của cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét nếu sau này các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
- Về án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Bà Châu Ngọc Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Q đã nộp theo biên lai thu số 0006237 ngày 06/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm. Bà Q đã nộp đủ án phí.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, các bên đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thế Trang Đền |
Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, Tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
