Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Số: 68/2024/HSST

Ngày 23/7/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

+ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hùng Cường

+ Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quang Hòa; Bà Trần Bích Thủy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa: Bà Lã Thị Loan - Kiểm sát viên .

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại phòng xử án hình sự Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số 65/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024; Đối với bị cáo Bùi Đỗ H, sinh năm 1984; Nơi ĐKHKTT và trú tại : Thôn T, xã B, huyện T, t.p Hà Nội; Quốc tịch : Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông: Bùi Đỗ Đ, sinh năm 1964; Con bà: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1965; Vợ :Bùi Thị H2 ( đã chết ); Con: Có 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự : Không; Bị cáo Bùi Đỗ H bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/3/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam S1 Công an thành phố H. Số giam : 2105 E2/ Buồng 8. (Có mặt tại phiên tòa).

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1989; Địa chỉ : Số E, phố C, phường S, thị xã S, t.p Hà Nội .( Vắng mặt tại phiên tòa).

Người làm chứng:

Anh Kiều Vũ T, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số I, phố N, phường N, thị xã S, t.p Hà Nội. .( Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Đỗ H, sinh năm 1984 ở xã B, huyện T, Hà Nội, là đối tượng nghiện chất ma túy. Sáng 18/3/2024 H nhận được điện thoại của Nguyễn Thị H1, sinh năm 1989 ở S, S, Hà Nội hỏi mua ma túy đá giá 3.000.000đ và thỏa thuận H1 chuyển khoản trước cho H số tiền 2.500.000đ, còn 500.000đ khi nào nhận ma túy H1 trả nốt, địa điểm giao ma túy là quan cafe số A phố C, phường S. Nhận được tiền, H ra cây ATM rút tiền rồi đến khu vực huyện T, Hà Nội tìm và mua gói ma túy của người phụ nữ không biết tên, địa chỉ giá 2.500.000đ. Sau khi mua được ma túy, H điều khiển xe môtô đến quán cafe P ở số A Chùa T, phường S, tại quán H gặp H1 và Kiều Vũ T ( bạn H1 ) đang ngồi uống nước, H ngồi cùng và để gói ma túy xuống bàn, qua quan sát H1, T thấy ma túy bị ngả màu, số lượng ít nên H1 nói không mua nữa, H đồng ý, cất ma túy vào túi quần thì cùng lúc đó Công an phát hiện bắt quả tang. Vật chứng Công an thu giữ : 01 gói ni lông trong suốt viền kẻ mép màu đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng trong túi quần H. Ngoài ra Công an thu của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, BKS 30L2-7145 ; thu của H1 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia.

Ngày 19/3/2024 Cơ quan điều tra khám xét chỗ ở của Bùi Đỗ H ở thôn T, xã B, huyện T, Hà nội : Không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Ngày 18/3/2024, Cơ quan điều tra Công an thị xã S đã ra quyết định trưng cầu giám định số ma túy khi bắt quả tang. Tại kết luận giám định số 2185/KL-KTHS ngày 27/3/2024 của phòng K Công an thành phố H kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 2,488 gam."

Về vật chứng của vụ án:

01 phong bì niêm phong dán kín của phòng K Công an T; 02 điện thoại di động; 01 xe moto nhãn hiệu Honda, BKS 30L2-7145. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục THADS thị xã S để bảo quản và chờ xử lý theo quy định.

Tại cơ quan CSĐT- Công an Thị xã S, bị cáo Bùi Đỗ H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên; Tại bản cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 25/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội truy tố bị cáo Bùi Đỗ H về tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy" theo Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Bùi Đỗ H về tội danh, điều luật như cáo trạng đã nêu. Đề nghị HĐXX áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 - BLHS năm 2015 - Sửa đổi bổ sung năm 2017; Đề nghị: Xử phạt bị cáo Bùi Đỗ H từ 36 đến 42 tháng tù; Thời hạn tù tính từ ngày 18/3/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về tang vật, vật chứng :

Đề nghị HĐXX: Tịch thu tiêu hủy: - 01 phong bì niêm phong dán kín của Phòng K - Công an T. Theo biên bản giao nhận vật chứng do Chi Cục Thi hành án thị xã Sơn Tây lập ngày 27/6/2024.

Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước:- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng hồng, đã cũ ; 01 xe máy nhãn hiệu HonDa loại AIBLADE; BKS: 30L2-7145, xe đã cũ; - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA loại bàn phím đen. Theo biên bản giao nhận vật chứng do Chi Cục Thi hành án thị xã Sơn Tây lập ngày 27/6/2024.

Đề nghị HĐXX buộc bị cáo Bùi Đỗ H nộp truy thu sung công quỹ Nhà Nước số tiền 2.500.000,đ do Nguyễn Thị H1 chuyển khoản cho bị cáo H đã mua ma túy để bán cho H1.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật .

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo, cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, Kiêm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Đủ căn cứ khảng định: Sáng 18/3/2024 bị cáo Bùi Đỗ H nhận được điện thoại của Nguyễn Thị H1 hỏi mua ma túy đá giá 3.000.000đ và thỏa thuận với H1 chuyển khoản trước cho bị cáo H số tiền 2.500.000đ, còn 500.000đ khi nào nhận ma túy thì H1 trả nốt, địa điểm giao ma túy là quan cafe số A phố C, phường S. Nhận được tiền, bị cáo H ra cây ATM rút tiền rồi đến khu vực huyện T, Hà Nội tìm và mua gói ma túy của người phụ nữ không biết tên, địa chỉ giá 2.500.000đ. Sau khi mua được ma túy, bị cáo H điều khiển xe môtô đến địa điểm mà H1 hẹn gặp. Tại đây H1 và Kiều Vũ T ( bạn H1) đang ngồi uống nước, bị cáo H ngồi cùng và để gói ma túy xuống bàn, qua quan sát H1 và T thấy ma túy bị ngả màu, số lượng ít nên H1 nói không mua nữa, bị cáo H đồng ý, cất ma túy vào túi quần thì cùng lúc đó Công an phát hiện bắt quả tang. Vật chứng Công an thu giữ : 01 gói ni lông trong suốt viền kẻ mép màu đỏ bên trong chứa tinh thể màu trắng trong túi quần H. Ngoài ra Công an thu của H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, 01 xe môtô nhãn hiệu Honda, BKS 30L2-7145 ; thu của H1 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia.

Ngày 19/3/2024 Cơ quan điều tra khám xét chỗ ở của Bùi Đỗ H ở thôn T, xã B, huyện T, Hà nội : Không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Ngày 18/3/2024, Cơ quan điều tra Công an thị xã S đã ra quyết định trưng cầu giám định số ma túy khi bắt quả tang. Tại kết luận giám định số 2185/KL-KTHS ngày 27/3/2024 của phòng K Công an thành phố H kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nilông là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 2,488 gam."

Hành vi của bị cáo Bùi Đỗ H đã cấu thành tội: "Mua bán trái phép chất ma túy".Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, t.p Hà Nội đã truy tố bị cáo theo tội danh trên theo Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo không những xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về việc quản lý chất ma túy mà còn là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Ma túy là độc dược, gây tổn hại sức khỏe con người, suy kiệt giống nòi, suy kiệt kinh tế đối với người sử dụng.

Việc mua bán ma túy để kiếm lời phục vụ của bản thân, do vậy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo. Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đầy đủ, toàn diện, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để quyết định mức hình phạt phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng:

Không có.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo H có hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, vợ chết một mình nuôi con nhỏ. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51- BLHS năm 2015. Cần áp dụng Điều 38- BLHS năm 2015; Buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian nhất định thì có đủ điều kiện cải tạo và giáo dục bị cáo cũng như công tác phòng ngừa tội phạm.

Ngoài hình phạt chính, khoản 5 Điều 251- BLHS, còn quy định hình phạt bổ sung đối với người có hành vi phạm tội. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về nguồn gốc ma túy bị cáo Bùi Đỗ H khai mua của người mua của người nữ giới không biết tên, địa chỉ ở khu vực huyện T, Hà Nội với giá 2.500.000đ để bán lại cho H1 với giá 3.000.000đ. Do bị cáo H không biết tên, địa chỉ cụ thể của người này, nên cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ để xử lý. Nên HĐXX không xét.

Đối với Nguyễn Thị H1 là người nghiện ma túy. H1 đã thỏa thuận với bị cáo H mua ma túy đá với giá 3.000.000,đ, chuyển trước cho H 2.500.000,đ, khi nào nhận ma túy thì trả nốt 500.000,đ. H1 đã đưa tiền mặt cho người quen là Đặng Ngọc Q để nhờ Q chuyển khoản tiền cho bị cáo H là 2.500.000,đ . Tuy nhiên khi bị cáo H mang ma túy đến, do ma túy không đạt yêu cầu nên H1 không mua nữa, đang trao đổi việc H trả lại 2.500.000,đ, bị cáo H đã cất ma túy vào túi, thì Cơ quan Công an bắt quả tang. Đối với H1 mua ma túy đã hoàn thành mục đích về để sử dụng, do không mua nữa, nửa trừng chấm dứt việc phạm tội, chưa cấu thành tội : “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” . Về chế tài xử lý vi phạm hành chính không có căn cứ nào để xử lý đối với Nguyễn thị H1. Nên Cơ quan điều tra không xử lý hành vi vi phạm pháp luật là có căn cứ. HĐXX không xét.

Đối với Kiều Vũ T là bạn H1 có mặt khi Công an bắt và Đặng Ngọc Q là người Hồng nhờ chuyển khoản cho H,tuy nhiên T không biết và tham gia vào việc mua ma túy, còn Q cũng không biết H1 nhờ chuyển tiền mua ma túy, nên Cơ quan điều tra không đưa ra hình thức xử lý đối với T và Q là đúng . HĐXX không xét.

Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda, BKS 30L2-7145 là tài sản của bị cáo H mua năm 2023 của người không quen biết, có đăng ký xe mang tên anh Hoàng Anh C ở phường D, C, Hà Nội. Xác minh anh C đã bán xe cho người không quen biết từ năm 2023.Tra cứu không phải xe vật chứng. Chiếc xe trên bị cáo H dùng đi mua ma túy và bán ma túy cho Nguyễn Thị Hồng L phương tiện công cụ phạm tội. Cần tịch thu sung công quỹ Nhà Nước là hoàn toàn có căn cứ.

Đối với việc Kiểm sát viên đề nghị HĐXX buộc bị cáo Bùi Đỗ H nộp truy thu sung công quỹ Nhà Nước số tiền 2.500.000,đ do Nguyễn Thị H1 chuyển khoản cho bị cáo H đã mua ma túy để bán cho H1. HĐXX nhận thấy việc bị cáo H có thỏa thuận với Nguyễn Thị H1 là mua ma túy 3.000.000,đ, nhưng chuyển cho bị cáo 2.500.000,đ, bị cáo H đã dùng toàn bộ số tiền này mua ma túy, tang vật chứng đã bị niêm phong và trưng cầu giám định ; Bị cáo H không sử dụng số tiền này vào việc khác hoặc cất giấu đi, nên không có căn cứ buộc bị cáo H phải truy thu số tiền trên.

* Về vật chứng vụ án:

Cần áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015:

Cần tịch thu tiêu hủy: - 01 phong bì niêm phong dán kín của Phòng K - Công an T. Theo biên bản giao nhận vật chứng do Chi Cục Thi hành án thị xã Sơn Tây lập ngày 27/6/2024.

Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước:- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng hồng, đã cũ ; Không kiểm tra máy bên trong; 01 xe máy nhãn hiệu HonDa loại AIBLADE; BKS: 30L2-7145; - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA loại bàn phím đen. Theo biên bản giao nhận vật chứng do Chi Cục Thi hành án thị xã Sơn Tây lập ngày 27/6/2024.

Về án phí: Bị cáo Bùi Đỗ H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 38 - Bộ luật hình sự năm 2015 - Sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên xử:

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Đỗ H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Đỗ H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/3/2024. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng khoản 1 Điều 329 – BLTTHS 2015 tiếp tục t'm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

* Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy : - 01 phong bì niêm phong dán kín của Phòng K - Công an T, bên ngoài có chữ ký của đối tượng Bùi Đỗ H; Đồng chí Kiều Anh T1 – cán bộ Công an thị xã S; Ông Nguyễn Danh S- Trợ giúp viên pháp lý; Ông Nguyễn Hoàng H3, Giám định viên - phòng KTHS, Công an T; Theo biên bản giao nhận vật chứng do Chi Cục Thi hành án thị xã Sơn Tây lập ngày 27/6/2024.

Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước:- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng hồng, đã cũ ; Không kiểm tra máy bên trong; 01 xe máy nhãn hiệu HonDa loại AIBLADE; BKS: 30L2-7145. Số máy JF27E0256013; SK: RLHJF1800 AY215880, xe đã cũ, đã qua sử dụng, tình trạng máy không kiểm tra; - 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA loại bàn phím đen. Theo biên bản giao nhận vật chứng do Chi Cục Thi hành án thị xã Sơn Tây lập ngày 27/6/2024.

* Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136- BLTTHS 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Bùi Đỗ H phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Án hình sự sơ thẩm xét xử công khai. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được kháng cáo về phần quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt bản án hợp lệ.

“ Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự“.

Nơi nhận

TAND Thành phố Hà Nội.

  • - VKSND t.x Sơn Tây.
  • - Công an t.x Sơn Tây.
  • - THADS, t.x Sơn Tây.
  • - Những người tham gia tố tụng.
  • - Lưu HS, VP

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Lã Hùng Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HSST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 68/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo H mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger