Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN DƯƠNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST

Ngày 22-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Lý

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Dung

Bà Bùi Thị Nhàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thành Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 59/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T; địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn Anh Vũ Đức C; địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện nộp tại Tòa án đề ngày 13 tháng 3 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Vũ Đức C kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2012 ,quyển số 01, ngày 08/3/2012. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại thôn B K, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, chị T và anh C phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung. Mâu thuẫn trầm trọng, không hoà giải được nên chị và anh C đã sống ly thân, không ai quan tâm ai. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Đức C.

- Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Vũ Đức C có hai con chung là Vũ Tuấn N sinh ngày 23/12/2012 và Vũ Yến P sinh ngày 22/4/2018. Chị đề nghị Toà án giao cả hai con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật vì anh C là người nóng nảy, hay đánh con, dễ khiến các con bị ảnh hưởng về tâm lý. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị Phạm Thị T không đề nghị Tòa án giải quyết.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết và tại phiên toà, bị đơn anh Vũ Đức C trình bày:

Anh Chính xác nhận về thời điểm vợ chồng kết hôn và quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không còn tình cảm nên anh đề nghị giải quyết ly hôn theo yêu cầu của chị T.

- Về con chung: Anh và chị T có hai con chung là Vũ Tuấn N sinh ngày 23/12/2012 và Vũ Yến P sinh ngày 22/4/2018. Anh đề nghị Toà án giao cho anh nuôi con tên N, chị T nuôi con tên P, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Anh C không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho chị Phạm Thị T ly hôn anh Vũ Đức C. Giao con Vũ Tuấn N sinh ngày 23/12/2012 cho anh Chính trực t nuôi dưỡng, giao con Vũ Yến P sinh ngày 22/4/2018 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi mỗi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung, chị T và anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết trong vụ án này. Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Phạm Thị T khởi kiện xin ly hôn bị đơn là anh Vũ Đức C đang cư trú tại xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phạm Thị T và anh Vũ Đức C đã được xác lập là hợp pháp (Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2012, quyển số 01, ngày 08/3/2012).Căn cứ vào lời khai của đương sự, tài liệu điều tra xác minh đã xác định được mâu thuẫn vợ chồng có tồn tại làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn anh Vũ Đức C.

[3]. Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Vũ Đức C có hai con chung là Vũ Tuấn N sinh ngày 23/12/2012 và Vũ Yến P sinh ngày 22/4/2018. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã yêu cầu chị T và anh C cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh về việc vợ hoặc chồng không có khả năng, điều kiện nuôi dạy con hoặc đánh đập, bạo lực con nhưng không ai xuất trình được. Anh C, chị T đều xuất trình được việc có thu nhập ổn định. Xét thấy cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, bản thân chị T cũng chưa có nhà riêng nếu giao cho chăm sóc cả hai con sẽ khó khăn, mặt khác sẽ không đảm bảo được quyền lợi của anh C. Chị T cũng trình bày ai cũng có điều kiện nuôi con nhưng giao con cho mẹ nuôi thì vẫn tốt hơn.Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của con chung và của cha mẹ nên giao con Vũ Tuấn N cho anh Chính trực t nuôi dưỡng, giao con Vũ Yến P cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với các Điều 81, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị T và anh C không yêu cầu Toà án giải quyết. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[4]. Về tài sản chung: Chị T và anh C không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong vụ án này.

[5]. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 39, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về hôn nhân: Chị Phạm Thị T được ly hôn anh Vũ Đức C.
  2. Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Vũ Đức C có hai con chung là Vũ Tuấn N sinh ngày 23/12/2012 và Vũ Yến P sinh ngày 22/4/2018. Giao con chung là Vũ Yến P cho chị Phạm Thị T, giao con chung Vũ Tuấn N cho anh Vũ Đức Chính trực t1 nuôi dưỡng, cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi, có đủ khả năng lao động hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008427 ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Chị T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị T và anh Vũ Đức C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện An Dương;
  • - Chi cục THADS huyện An Dương ;
  • - UBND xã Tân Tiến, huyện An Dương, Hải Phòng
  • (Giấy chứng nhận kết hôn số 09/2012,quyển số 01, ngày 08/3/2012)
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Lý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị T ly hôn anh C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger