|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 68/2024/HSST
Ngày 22 tháng 7 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sang
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh, ông Nguyễn Văn Thanh
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Nguyễn Văn Huấn - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2024/HSST ngày 24 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2024/HSST-QĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
* Họ và tên: Nguyễn Trung K; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam. Sinh năm 1999; Nơi cư trú : thôn D, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Phóng viên; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên bố: Nguyễn Văn G, sinh năm 1976. Họ và tên mẹ: Trần Thị X, sinh năm 1979; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không có;
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo Nguyễn Trung K có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại:
- Anh Cao Thành Đ, sinh năm 2005 (đã chết)
* Người đại diện hợp pháp của người bị hại:
- Bà Hoàng Thị C, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố H, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Thân Văn N, sinh năm 1993 (vắng mặt)
- Anh Đặng Văn N1, sinh năm 1981 (vắng mặt)
- Chị Vũ Như Q, sinh năm 1986 (vắng mặt)
- Anh Đặng Văn T, sinh năm 1987 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Hạ, xã Nghĩa Hòa, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: khu Hải An, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
Địa chỉ: tổ 17, phường Chiềng Sinh, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La
Địa chỉ: thôn D, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Trung K, sinh năm 1999 ở thôn D, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang có giấy phép lái xe hạng C được Sở GTVT tỉnh B cấp ngày 08/12/2020.
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/11/2023, K điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Tuson gắn biển kiểm soát 30G- 855.18 của anh Đặng Văn N1, sinh năm 1981 ở tổ dân phố C, phường L, thành phố B đi từ thị trấn B, huyện Y theo đường T để về quán nước ở thôn B, xã N, huyện L đón anh N1; đi trên xe cùng K còn có anh Thân Văn N, sinh năm 1993 ở thôn H, xã N, huyện L ngồi ở ghế phụ. Đến khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, K đi đến đoạn Km 07+ 110 đường T thuộc địa phận thôn B, xã N, huyện L thì phát hiện đi qua vị trí anh Đặng Văn N1 ngồi đợi khoảng 15m nên đã dừng xe bật đèn cảnh báo nguy hiểm nhưng không quan sát kỹ gương chiếu hậu điều khiển xe ô tô gắn biển 30G-855.18 đi lùi lại phía sau. Cùng lúc này, ở phía sau xe ô tô 30G- 855.18 do K điều khiển đang có xe mô tô, biển kiểm soát 98M1-103.52 do anh Cao Thành Đ, sinh năm 2005 ở tổ dân phố H, thị trấn V, huyện L điều khiển đi đến. Khi K điều khiển xe ô tô 30G- 855.18 đi lùi được khoảng 13,5m thì va chạm với đầu xe mô tô 98M1-103.52 do anh Đ điều khiển. Hậu quả, anh Đ ngã ra đường bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa thị trấn B, đến ngày 05/11/2023 thì anh Đ tử vong.
Sau khi vụ việc xảy ra, Cơ quan điều tra khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và tạm giữ các đồ vật, tài liệu gồm: 01 xe ô tô Huyndai Tucson, gắn biển kiểm soát 30G- 855.18; 01 xe mô tô biển kiểm soát 98M1- 103.52; 01 giấy biên nhận thế chấp của ngân hàng TMCP Q1 (M)- chi nhánh S đề ngày 14/12/2022 (ký hiệu A1); 01 bản sao chứng thực giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 26A- 062.32 ngày 14/12/2022 của Văn phòng C1, thành phố S; 01 giấy chứng nhận kiểm định và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm dân sự xe ô tô 26A-062.32; 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Trung K, (BL 124). Đồng thời, tiến hành xét nghiệm chất ma túy, kiểm tra nồng độ cồn đối với Nguyễn Trung K. Kết quả, K không có nồng độ cồn và âm tính với các chất ma túy. (BL 108- 109)
Kết quả khám nghiệm hiện trường (BL 43-44)
Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ tại Km 7 + 110 đường tỉnh lộ 292 thuộc địa phận thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn được trải nhựa, áp phan phẳng, thẳng. Mặt đường rộng 11m, giữa đường có vạch sơn màu vàng ngắt quãng chia chiều đường thành hai dòng phương tiện đi ngược chiều nhau. Trong là làn đường dành cho xe cơ giới rộng 3,5m, ngoài là làn đường dành cho xe thô sơ và xe máy cùng rộng 2m. Hai đầu đường hướng phía Đông và phía Tây của hiện trường không có biển báo hiệu giao thông. Lấy chân cột Km 7 + 110 bên mép đường trái làm điểm mốc. Lấy mép đường phải là mép đường chuẩn. Bên phải, bên trái của hiện trường được tính theo chiều đi của đường tỉnh lộ 292 hướng TT B - TT Kép (T – Đông). Phía Bắc, phía Nam hiện trường là khu dân cư thôn B (thôn D), xã N, huyện L. Phía Đông hiện trường tiếp giáp với nghĩa trang liệt sĩ xã N. Phía Tây hiện trường tiếp giáp trường tiểu học cơ sở xã N.
Xe mô tô biển kiểm soát 98M1 - 103.52 nghiêng phải trên mặt đường phải, đầu xe quay về hướng Đông Bắc mắc vào đuôi xe ô tô biển kiểm soát 30G - 855.18. Đầu trục bánh trước điểm gần nhất cách mép đường phải 280cm. Đầu trục bánh sau điểm gần nhất cách mép đường phải 240cm. Ký hiệu số (1).
Xe ô tô biển kiểm soát 30G - 855.18 đỗ tự nhiên trên mặt đường phải. Đầu xe quay về hướng Đ. Đầu trục bánh trước bên phải điểm gần nhất cách mép đường phải 1,1m và cách điểm mốc về hướng Đông Bắc 20,2m. Đầu trục bánh sau bên phải điểm gần nhất cách mép đường phải 1,3m, cách đầu trục bánh trước xe (1) 1,8m. Ký hiệu số (2).
Vết chà sát mặt đường bám dính tạp chất nổi màu đen dạng hình cong ở cuối vết trên mặt đường phải, kích thước (880 x 3)cm chiều hướng T - Đông Bắc. Đầu vết cách mép đường phải 1,8m. Cuối vết kết thúc tại mặt lăn má lốp bánh sau xe (1) nơi tiếp xúc với mặt đường. Ký hiệu số (3).
Vết máu đọng đỏ ướt trên mặt đường phải kích thước (110 x 70)cm. Đầu vết cách mép đường phải 2,4m và cách đến đầu trục bánh sau xe (1) về hướng Đông Nam 3,2m. Ký hiệu số (4).
Vùng nhựa kính vỡ trên mặt đường phải vị trí phía sau xe (2) và đầu xe (1) kích thước (290 x 260)cm, tâm vùng nhựa kính vỡ cách mép đường phải 2,6m, tâm cách đầu trục bánh trước xe (1) về hướng Đông Bắc 80cm. Ký hiệu số (5).
Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô gắn bển kiểm soát 30G - 855.18 (BL 77-78)
Bung bật ốp kim loại gắn biển kiểm soát 30G - 855.18 phía sau xe ô tô. Mặt sau ốp kim loại bị gãy vỡ, có vết mài sát sơn, kim loại bề mặt bám dính vất chất màu nâu dạng sơn (23 x 20)cm. T1 vết cách đất 80cm.
Mặt sau cốp xe bị bẹp lõm kim loại, bám dính vật chất màu nâu dạng sơn và vật chất màu đen. Trên diện kích thước (50 x 5)cm. T1 vết cách đất 102cm.
Vỡ khuyết kính chắn gió phía sau. Góc dưới bên trái bám dính vật chất màu nâu đỏ đã khô ghi là máu.
Vỡ thủng cạnh dưới mặt sau cốp xe bề mặt có dấu vết mài sát sơn, kim loại bám dính vật chất màu nâu dạng sơn, trên diện kích thước (20 x 9)cm. T1 vết cách đất 60cm.
Ốp nhựa phía sau sàn xe có dấu vết rách thủng bề mặt có dấu vết mài sát sơn nhựa bám dính vật chất màu đen, trên diện kích thước (17 x 13)cm. T1 vết cách đất 45cm.
Gãy vỡ nhựa gầm xe phía sau. Mặt trước ốp xả bị bẹp lõm, bề mặt có dấu vết mài sát kim loại, bám dính vật chất màu đen, trên diện kích thước (14 x 7)cm. T1 vết cách đất 32cm.
Kết quả khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 98M1 – 103.52 (BL 64-65)
Bung bật ốp đèn chiếu sáng, vỡ khuyết một phần ốp nhựa đèn chiếu sáng, cạnh trên có dấu vết mài trượt, mài sát sơn, kim loại bề mặt bám dính vật chất màu trắng, trên diện kích thước (17 x 12)cm. T1 vết cách đất 102cm.
Giá kim loại phía trước đầu xe bị chùn cong từ trước về sau, từ trái qua phải, bề mặt có dấu vết mài sát kim loại, bám dính vật chất màu trắng dạng sơn, trên diện kích thước (19 x 25)cm. T1 vết cách đất 70cm.
Đầu ốc kim loại cố định dèn chiếu sáng có dấu vết mài sát kim loại, bề mặt bám dính vật chất màu trắng dạng sơn, kích thước (3,5 x 1)cm. T1 vết cách đất 96cm.
Gãy khuyết một phần cung trước chắn bùn bánh trước phần còn lại có dấu vết mài sát sơn, nhựa chiều hướng từ trước về sau. Trên diện kích thước (25 x 14)cm. T1 chắn bùn bánh trước cách đất 65cm.
Ốp nhựa giảm sóc bên trái bánh trước có diện mài sát sơn nhựa chiều hướng từ trước ra sau, bề mặt bám dính vật chất màu trắng dạng sơn, kích thước (12 x 7)cm. T1 vết cách đất 57cm.
Cạnh trước bên ngoài giảm sóc bên trái bánh trước có dấu vết mài sát kim loại bề mặt bám dính vật chất màu đen.
Má lốp bánh trước có diện mài sát cao su bề mặt bám dính vật chất màu trắng dạng sơn, kích thước (50 x 10)cm. Cạnh bên trái vành bánh trước có dấu vết mài sát kim loại, bề mặt bám dính vật chất màu trắng dạng sơn, kích thước (8 x 1,5)cm.
Cạnh trước, mặt trên ốp nhựa tay phải có dấu vết mài sát sơn, nhựa bề mặt bám dính vật chất màu trắng dạng sơn, kích thước (10 x 4)cm. Gãy vỡ ốp nhựa đèn chiếu sáng, kích thước (12 x 0,2)cm. Gãy vỡ ốp nhựa bảo vệ hệ thống điều khiển phía trước đầu xe, kích thước (38 x 10)cm và vỡ mặt sau cánh yếm.
Kết quả khám nghiệm tử thi Cao Thành Đ (BL 92-93)
Vùng trán phải có đám chợt da bầm tím kích thước (8x5)cm. Vùng thái dương phải có vết chợt da bầm tím kích thước (3,5x2)cm. Châm phải: Trật khớp háng phải; gối phải có vết chợt da kích thước (2x1,5)cm; mặt trước 1/3 trên cẳng chân phải có vết chợt da kích thước (4,5x2,5)cm; cẳng chân phải sưng nề, bầm tím kích thước (24x9)cm; gãy 1/3 dưới xương chân phải.
Tại giấy chứng nhận thương tích của Bệnh viện Đa khoa thị trấn B, huyện Y ngày 14/11/2023, xác định: Cao Thành Đ vào viện lúc 21 giờ 40 phút ngày 04/11/2023 với tình trạng đau nhiều vùng cằm, chảy máu vùng cằm, đau nhiều vùng hông phải và cẳng chân phải. Chuẩn đoán: Trật khớp háng phải; vỡ ổ cối phải; gãy ngành trên xương mu trái; gãy kín xương chày phải; vết thương vùng cằm. (BL 248)
Tại kết luận giám định tử thi số 1-/KLTTHS-PY ngày 20/1/2024 của V - Cục Q2, kết luận:
“Nguyên nhân tử vong của Cao Thành Đ là suy tuần hoàn, suy hô hấp không hồi phục trên một người đa chấn thương (Chấn thương ngực kín, tràn máu màng phổi, chấn thương xương - khớp: trật khớp háng, vỡ ổ cối, gãy xương mu, gãy đầu trên và thân xương chày phải, chấn thương phần mềm vùng cằm, vùng đầu mặt bên phải, tay và chân phải). Các thương tích gây nên do tác động với vật tày”. (BL 153- 156)
Tại kết luận giám định số 2653/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh B, kết luận:
“1. Dấu vết mài trượt cao su, sạch bụi đất, hướng ngược chiều chuyển động tiễn ở mặt lăn, má lốp bánh trước của xe mô tô biển kiểm soát 98M1 - 103.52 (ảnh 23, 24, 25 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết vỡ, mài trượt sơn, nhựa, hướng từ sau ra trước ở mặt ngoài bên trái cản sau của xe ô tô biển kiểm soát 30G - 855.18 (ảnh 20, 21 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
- Dấu vết vỡ, trượt xước sơn, nhựa ở chắn bùn bánh trước và dấu vết chùn cong kim loại, bám dính chất màu trắng (dạng sơn), hướng từ trước ra sau ở giá gắn giỏ của xe mô tô biển kiểm soát 98M1 - 103.52 (từ ảnh 10 đến ảnh 17 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết lõm thủng, nứt vỡ nhựa, bám dính chất màu nâu (dạng sơn), hướng từ sau ra trước ở mặt ngoài bên trái ba đờ sốc sau của xe ô tô biển kiểm soát 30G - 855.18 (ảnh 14, 15, 16 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
- Dấu vết vỡ nhựa, trượt xước kim loại, bám dính chất màu trắng (dạng sơn), hướng từ trước ra sau ở cụm đèn trước của xe mô tô biên kiểm soát 98M1 - 103.52 (từ ảnh 5 đến ảnh 9 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết lõm, trượt xước kim loại, bám dính chất màu tím, hướng từ sau ra trước ở bên trái nắp cốp sau của xe ô tô biển kiểm soát 30G - 855.18 (ảnh 7, 8 bản ảnh khám nghiệm phương tiện).
2. Dấu vết mảnh nhựa, kính vỡ, ký hiệu số 5 phù hợp với quá trình va chạm các chỉ tiết nhựa, kính trên xe mô tô biển kiểm soát 98M1 - 103.52 và xe ô tô biển kiểm soát 30G - 855.18 vỡ, rơi trên mặt đường tạo nên.
3. Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển kiểm soát 98M1 - 103.52 và xe ô tô biển kiểm soát 30G - 855.18 trên mặt đường, tại điểm cuối dấu vết mài trượt mặt đường màu đen ký hiệu số 3 (trong diện dấu vết mảnh nhựa, kính vỡ số 5, ảnh 4 bản ảnh khám nghiệm hiện trường).
4. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm qua dấu vết cơ học.” (BL 175-176)
Tại kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 03/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L, kết luận: Giá trị phần hư hỏng xe ô tô Huyndai Tucson gắn biển kiểm soát 30G- 855.18 là 14.400.000 đồng. Giá trị phần hư hỏng xe mô tô gắn biển kiểm soát 98M1- 103.52 là 1.750.000 đồng (BL 183).
Kết quả điều tra xác định xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Tucson, gắn biển kiểm soát 30G- 855.18 có giấy chứng nhận đăng ký mang tên Vũ Như Q, sinh năm 1986 ở Tổ F, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La và biển kiểm soát ghi trong đăng ký là 26A- 062.32. Khoảng tháng 12/2022, Đặng Văn N1 thông qua đối tượng tên T quen biết trên mạng xã hội (N1 không biết họ, tuổi, địa chỉ cụ thể của T) và mua xe ô tô Huyndai Tucson, biển kiểm soát 26A- 062.32 của chị Q. Do xe ô tô này chị Q đang thế chấp tại Ngân hàng M- chi nhánh S nên khi mua T chỉ giao cho N1: 01 giấy bán xe do chị Vũ Như Q ký; 01 giấy đăng kiểm xe ô tô 26A- 062.32 đề ngày 03/12/2021, 01 giấy bảo hiểm trách nhiệm dân sự; 01 giấy biên nhận thế chấp ngân hàng M chi nhánh S đề ngày 05/4/2021 và 01 bản sao chứng thực giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 26A- 062.32 của Uỷ ban nhân dân (UBND) phường Chiềng Sinh ngày 01/6/2020. Do giấy biên nhận thế chấp sắp hết hạn nên ngày hôm sau T gửi cho N1: 01 giấy biên nhận thế chấp của ngân hàng M- chi nhánh S và 01 bản sao chứng thực giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 26A- 062.32 của Văn phòng C1 cùng đề ngày 14/12/2022. Sau khi vụ tai nạn xảy ra, T gửi tiếp cho N1: 01 giấy biên nhận thế chấp của ngân hàng M1- chi nhánh S và 01 bản sao chứng thực giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 26A- 062.32 của Văn phòng C1 cùng đề ngày 03/11/2023. Trong quá trình sử dụng xe ô tô thì N1 còn đặt mua trên mạng 01 biển kiểm soát 30G- 855.18 lắp vào xe để tránh bị phạt nguội.
Ngày 13/11/2023, anh Đặng Văn N1 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 giấy bán xe có chữ ký của Vũ Như Q; 01 giấy biên nhận thế chấp của ngân hàng M- chi nhánh S đề ngày 03/11/2023 (ký hiệu A2); 01 giấy biên nhận thế chấp của ngân hàng M- chi nhánh S đề ngày 05/4/2021 (ký hiệu A3); 01 bản sao chứng thực giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 26A- 062.32 do UBND phường C chứng thực ngày 01/6/2020 và 01 bản sao chứng thực giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 26A- 062.32 ngày 14/12/2022 của Văn phòng C1, thành phố S. (BL 128).
Ngày 29/11/2023, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại Sở tư pháp tỉnh Sơn La, xác định trên địa bàn tỉnh Sơn La không có văn phòng công chứng nào là văn phòng C1. (BL 490)
Ngày 19/4/2024, Cơ quan điều tra trưng cầu giám định con dấu trên các tài liệu ký hiệu (A1, A2, A3). Tại kết luận giám định số 929/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: Hình dấu tròn trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A3) so với tài liệu mẫu do cùng một con dấu đóng ra; hình dấu tròn trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2) so với tài liệu mẫu không phải của cùng một con dấu. (BL 170)
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 09/11/2024, bị can K đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại Cao Thành Đ số tiền 40.000.000 đồng. Đại diện bị hại chị Hoàng Thị C, sinh năm 1980 ở ở tổ dân phố H, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang (mẹ đẻ của Đ) đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị can.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung K đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai, vi phạm pháp luật và hứa cải tạo tốt, không tái phạm.
Bản cáo trạng số 67/CT-VKS ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Ngoài ra còn đề nghị về vật chứng; án phí; xem xét về quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Nguyễn Trung K tại phiên tòa đã thừa nhận bị cáo thực hiện hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, cụ thể: Khoảng 21 giờ 10 phút ngày 04/11/2023, tại Km 07+110 đường tỉnh 292 thuộc địa phận thôn B, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Trung K (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Huyndai Tucson gắn biển kiểm soát là 30G- 855.18 đi lùi nhưng không đảm bảo an toàn (Vi phạm khoản 1, Điều 16 Luật giao thông đường bộ) nên cốp phía sau xe ô tô biển kiểm soát 30G-855.18 va chạm với đầu xe mô tô, biển kiểm soát 98M1- 103.52 do anh Cao Thành Đ điều khiển đi phía sau. Hậu quả, anh Đ tử vong.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Lời khai của bị cáo cũng hoàn toàn phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm và được chứng minh bằng các chứng cứ như: biên bản khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; kết luận giám định tử thi. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung. Viện kiểm sát nhân huyện L truy tố bị cáo về tội danh, điều luật trên theo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả và được đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đánh giá về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Trung K, HĐXX xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông mà pháp luật nhà nước ta bảo vệ, gây hậu quả làm chết một người. Do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, bị cáo Nguyễn Trung K là người có nhân thân tốt; có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; sau khi gây tai nạn đã chủ động bồi thường, khắc phục hậu quả và được đại diện hợp pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông cũng có một phần lỗi của người bị hại là điều khiển xe mô tô khi không có giấy phép lái xe vi phạm khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền 40.000.000 đồng để khắc phục hậu quả. Đại diện gia đình nạn nhân là bà Hoàng Thị C không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với thiệt hại về xe ô tô Huyndai Tucson, biển kiểm soát 26A- 062.32 và xe mô tô biển kiểm soát 98M1- 103.52; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Vũ Như Q và anh Đặng Văn T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[5]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 98M1- 103.52 quá trình điều tra xác định là tài sản cá nhân của anh Đặng Văn T, sinh năm 1987 ở thôn D, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Đ tự ý lấy đi và xảy ra tai nạn. Ngày 06/3/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô này cho anh T, anh T nhận lại xe và không có yêu cầu đề nghị gì.
- Đối với 01 xe ô tô Honda Tucson, biển kiểm soát 26A- 062.32, đến nay chị Vũ Như Q đã trả hết nợ cho Ngân hàng TMCP Q1 (M)- chi nhánh S nên ngân hàng không có yêu cầu, đề nghị gì đối với xe ô tô trên. Ngày 28/5/2024, chị Q trả lại anh N1 số tiền mua xe 26A- 062.32, anh N1 và chị Q thống nhất đề nghị Cơ quan điều tra trả lại xe ô tô 26A- 062.32 cho chị Q. Cùng ngày, Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe ô tô này cho chị Q.
- Đối với 01 giấy chứng nhận kiểm định, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe ô tô 26A- 062.32, 01 biển kiểm soát 30G- 855.18 (do N1 đi đăng kiểm và mua tại thời điểm sử dụng xe ô tô) Cơ quan điều tra đã chuyển đến Công an huyện L để xử phạt vi phạm hành chính đối N1 về hành vi gắn biển kiểm soát không đúng với đăng ký xe.
- Đối với 01 giấy bán xe; 03 giấy biên nhận thế chấp và bản sao chứng thực giấy đăng ký xe ô tô 26A- 062.32 được lưu trong hồ sơ vụ án.
- Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C của Nguyễn Trung K không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
[6]. Đối với đối tượng tên T gửi cho Đặng Văn N1 02 giấy biên nhận thế chấp của Ngân hàng TMCP Q1- chi nhánh S, 02 bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 26A-06232 do văn phòng C2 là các tài liệu giả. Cơ quan điều tra đã tiến hành hết các biện pháp điều tra nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của T nên không có căn cứ xử lý.
Đối với Đặng Văn N1 sử dụng các giấy tờ giả do đối tượng T cung cấp. Tuy nhiên, không xác định được đối tượng làm giả, khi sử dụng không biết các tài liệu này là giả và không dùng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với N1 về hành vi này.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; đại diện hợp pháp của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 16 Luật giao thông đường bộ;
Căn cứ Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Thời gian thử thách 03 (ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/7/2024.
Giao bị cáo Nguyễn Trung K cho UBND xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
[2]. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Trung K.
(Đặc điểm vật chứng của vụ án theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang).
[3]. Về án phí: Bị cáo phải chịu số tiền 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Sang |
Bản án số 68/2024/HSST ngày 22/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 68/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN TRUNG KIÊN - VI PHẠM GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
