|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2024/HSST Ngày: 21-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Tuấn
2. Bà Vũ Thị Ngọc Phan
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Huyền My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Ông Lưu Nguyên Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm - Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, điểm cầu thành phần - Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Ngọc T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 02/7/1968 tại Thái Nguyên; ĐKHK: Xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Chỗ ở: Xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 5/10; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông Hoàng Văn T1 và con bà Nguyễn Thị L (đều đã chết); bị cáo có vợ Tô Thị T2, sinh năm 1968 (đã ly hôn); vợ thứ hai Nguyễn Thị L1, sinh năm 1972; bị cáo có 06 con, con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: 02.
- + Tại bản án số 10/2016/HSST ngày 29/01/2016, Tòa án nhân dân huyện Phú Bình xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc” (số tiền dùng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng). Tại Quyết định giám đốc thẩm số 125/2018/HS –GĐT ngày 15/6/2018, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội miễn trách nhiệm hình sự đối với Hoàng Ngọc T.
- + Tại Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số 180/QĐ - UBND ngày 15/7/2021, Chủ tịch UBND xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục đối với T tại xã thời hạn 03 tháng kể từ ngày 15/7/2021. Bị cáo chấp hành xong.
Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Bị cáo bị bắt từ ngày 24/6/2024 cho đến nay (Có mặt)
- * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn V, sinh năm 1961; nơi cư trú: Xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt)
- * Người chứng kiến: Anh Hoàng Văn K, sinh năm 1984, nơi cư trú: Xóm L, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 24/6/2024, tổ công tác Công an xã T, huyện P đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm L của xã thì phát hiện một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai tên là Hoàng Ngọc T và tự giác lấy từ trong lòng bàn tay trái ra 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng (T khai là ma túy loại Heroine), T vừa mua về để sử dụng. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI VIVA, biển kiểm soát 20L8 -6274, đã qua sử dụng.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P phối hợp với phòng K1 Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong cân xác định: Chất bột màu trắng thu giữ của T có khối lượng 0,167 gam, lấy toàn bộ cho vào 01 bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định.
Hồi 10 giờ 30 phút ngày 25/6/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Ngọc T tại xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên kết quả không thu giữ gì.
Tại bản kết luận giám định số 779/KL –KTHS ngày 02/7/2024 của phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ –CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng thu giữ ban đầu là 0,167gam.
Tại cơ quan điều tra, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai người chứng kiến.
* Vật chứng của vụ án:
- + 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên ngoài bì thư có ghi “Hoàn trả 0,157 gam mẫu A1 và vỏ bao gói còn lại sau giám định”;
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI VIVA BKS 20L8 -6274.
Cáo trạng số 71/CT -VKSPB ngày 02 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đã truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Khoảng 09 giờ 50 phút ngày 24/6/2024, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20L8-6274 đi từ nhà ra khu vực thị trấn H, huyện P mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi địa chỉ và mua của người này 01 gói ma túy loại Heroine được đựng trong 01 túi nilon màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau đó, T cầm gói ma túy vừa mua được vào trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe đi về nhà để sử dụng. Khi về đến khu vực xóm L, xã T thì bị tổ công tác Công an xã T phát hiện, bắt quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định. Tạm giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI VIVA BKS 20L8-6274.
Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xem xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- * Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo T từ 30 đến 36tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- * Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên ngoài bì thư có ghi “Hoàn trả 0,157 gam mẫu A1 và vỏ bao gói còn lại sau giám định”;
- + Trả lại cho ông Hoàng Văn V 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI VIVA biển kiểm soát 20L8 -6274.
- * Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử không oan, đúng người, đúng tội.
Phần lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
- [2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Căn cứ lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: Hồi 10 giờ 30 phút ngày 24/6/2024, tại khu vực xóm L, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Hoàng Ngọc T đang có hành vi tàng trữ 0,167 gam chất ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an xã T phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Nội dung điều 249 BLHS quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a,b...
c, H,... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam...”
Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
- [3] Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo biết ma túy là chất cấm thuộc độc quyền quản lý của Nhà nước nhưng vẫn tàng trữ với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, bởi ma túy không chỉ làm suy kiệt kinh tế và sức lao động mà nó còn có thể làm hạn chế hoặc mất đi khả năng điều khiển hành vi của con người, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác.
- [4] Xét về nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên xét bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS.
- [5] Về hình phạt: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần có mức án nghiêm phù hợp với hành vi bị cáo gây ra, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo đồng thời góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung. Xét bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 BLHS nên Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Xét mức án đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện phú B đề nghị là phù hợp.
- [6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù, bị cáo có thể bị phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 BLHS. Tuy nhiên xác định bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, mua ma túy về sử dụng không nhằm mục đích thu lời bất chính. Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- [7] Về vật chứng vụ án:
- + Cần tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A1 bên ngoài bì thư có ghi “Hoàn trả 0,157 gam mẫu A1 và vỏ bao gói còn lại sau giám định”.
- + Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI VIVA BKS 20L8 -6274. Quá trình điều tra xác định chủ xe là ông Hoàng Văn V, sinh năm 1961 – cư trú tại Xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Khi bị cáo mượn xe đi ông V không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội. Cần trả lại cho ông V chiếc xe trên là phù hợp.
- [8] Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 329 BLTTHS ra Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- [9] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm; bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
- [10] Về các vấn đề khác:
- + Nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
- + Đối với ông Hoàng Văn V là người cho bị cáo T mượn xe mô tô BKS 20L8 -6274. Quá trình điều tra xác định ông V không biết T sử dụng xe để đi mua ma túy, cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Ngọc T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
- Áp dụng điều luật và mức hình phạt: Căn cứ Điều 329 BLTTHS; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS: Xử phạt bị cáo T 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/6/2024. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01(một) bì niêm phong còn nguyên vẹn được dán kín có dấu đỏ ký hiệu A1, bên ngoài bì thư có ghi hoàn trả 0,157 gam mẫu A1 và vỏ bao gói còn lại sau giám định vụ Hoàng Ngọc T, SN 1968, có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Trả lại cho ông Hoàng Văn V, sinh năm 1961 – cư trú tại xóm N, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SUZUKI Viva; màu sơn: đen; gắn biển kiểm soát 20L8 - 6274; số khung RLSBE4AB060161071; số máy E438VN161071; dung tích xilanh: 109cm³; ngày đăng ký: 26/7/2007; xe có gương chiếu hậu cả hai bên; phần vỏ yếm bên phải xe bị nứt vỡ, khi giao nhận xe không kiểm tra tình trạng bên trong xe và săm lốp bên ngoài, xe cũ đã qua sử dụng (không có chìa khóa xe).
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 06/8/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên).
- Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
Án xử công khai, báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trương Thị Thanh Trúc |
Bản án số 68/2024/HSST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 68/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
