Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HN-ST

Ngày: 21/6/2024

“V/v ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Yến Nhi.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Việt Trinh.

Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.

- Thư ký phiên Tòa: Bà Đoàn Ngọc Huỳnh Như – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.

Ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 497/2023/TLST – HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1974 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số D ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Bà Lê Thị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 28/4/2024.

Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng T1, sinh năm 1973 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Số A ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16 tháng 11 năm 2023 và trong quá trình tố tụng sơ thẩm nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Hồng T1 cưới nhau trên tinh thần tự nguyện vào năm 1991. Nhưng đến ngày 13/5/2015, bà và ông T1 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc, sau đó đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn thường xuyên gây gỗ, nguyên nhân là cuộc sống không hòa hợp dẫn do bất đồng quan điểm sống. Bà và ông Nguyễn Hồng T1 đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nay, bà thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, không thể hàn gắn được với ông T1 nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hồng T1.

- Về con chung: Quá trình sống chung, có 03 con chung, cháu Nguyễn Thị Hồng Q, sinh ngày 10/10/1992; Nguyễn Đức S, sinh ngày 21/08/1994; Nguyễn Thị Hồng D, sinh ngày 29/5/2004. Khi ly hôn, các con chung đã trưởng thành nên, có cuộc sống riêng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ba Tri đã tổng đạt hợp lệ cho ông Nguyễn Hồng T1 các văn bản tố tụng nhưng ông T1 vắng mặt không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như xét xử nên Tòa án không thu thập được lời khai của ông Nguyễn Hồng T1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Lê Thị T khởi kiện bị đơn ông Nguyễn Hồng T1. Ông Nguyễn Hồng T1 có hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Hồng T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng ông vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt ông T1 là phù hợp quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Lê Thị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt đề ngày 28/4/2024. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là phù hợp quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T và ông Nguyễn Hồng T1 cưới nhau vào năm 1991 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 13/5/2015 theo quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông T1 được công nhận là hợp pháp.

Sau khi kết hôn cuộc sống bà T và ông T1 sống không hạnh phúc do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên xảy ra cãi vả. Đồng thời, bà T và ông T1 đã sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Hơn nữa, Tòa án đã tiến hành mời ông T1 để hòa giải nhằm cho các bên có cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông T1 không đến dự. Điều đó cho thấy ông T1 không còn muốn hàn gắn đối với mối quan hệ hôn nhân với bà T, chứng tỏ hôn nhân giữa bà T và ông T1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu ly hôn với ông T1 là có căn cứ. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Tuyết.

[3] Về con chung: Quá trình sống chung, bà Lê Thị T và ông Nguyễn Hồng T1 có 03 con chung, cháu Nguyễn Thị Hồng Q, sinh ngày 10/10/1992; Nguyễn Đức S, sinh ngày 21/08/1994; Nguyễn Thị Hồng D, sinh ngày 29/5/2004. Khi ly hôn, các con chung đã trưởng thành niên có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[4] Về tài sản chung; nợ chung: Bà Lê Thị T khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[5] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-HĐTP quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị T đối với ông Nguyễn Hồng T1. Cho bà Lê Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Hồng T1.
  2. Về con chung: Quá trình sống chung, bà Lê Thị T và ông Nguyễn Hồng T1 có 03 con chung, cháu Nguyễn Thị Hồng Q, sinh ngày 10/10/1992; Nguyễn Đức S, sinh ngày 21/08/1994; Nguyễn Thị Hồng D, sinh ngày 29/5/2004. Khi ly hôn, các con chung đã trưởng thành niên có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xét đến.
  3. Về tài sản chung; nợ chung: Bà Lê Thị T khai không có, nên không xét đến.
  4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000081 ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Vậy, bà Lê Thị T đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Bà Lê Thị T, ông Nguyễn Hồng T1 vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (Phòng KTNV&THA);
  • - VKSND huyện Ba Tri;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Tri;
  • - UBND xã T;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hồ Thị Yến Nhi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HN-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE về ly hôn

  • Số bản án: 68/2024/HN-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị T đối với ông Nguyễn Hồng T1. Cho bà Lê Thị T được ly hôn với ông Nguyễn Hồng T1. 2. Về con chung: Quá trình sống chung, bà Lê Thị T và ông Nguyễn Hồng T1 có 03 con chung, cháu Nguyễn Thị Hồng Q, sinh ngày 10/10/1992; Nguyễn Đức S, sinh ngày 21/08/1994; Nguyễn Thị Hồng D, sinh ngày 29/5/2004. Khi ly hôn, các con chung đã trưởng thành niên có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xét đến. 3. Về tài sản chung; nợ chung: Bà Lê Thị T khai không có, nên không xét đến.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger