TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2025/HS-PT Ngày 23 - 6 - 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Mai.
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Duy Sơn
Ông Vũ Văn Mạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 82/2025/TLPT-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Lưu Văn H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2025/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Bị cáo có kháng cáo: Lưu Văn H, sinh ngày 25 tháng 7 năm 1990 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Lưu Văn T, con bà Ngô Thị N; Có vợ là Nguyễn Thị K và có 04 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- + Bản án hình sự số 17/HSST ngày 07/6/2012, Toà án nhân dân thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xử Lưu Văn H 36 tháng tù về tội Cướp tài sản. Bản án hình sự phúc thẩm số 135/HSPT ngày 22/8/2012, Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội Cướp tài sản. Ngày 22/8/2017, chấp hành xong hình phạt, ngày 30/7/2012, chấp hành xong án phí.
- + Ngày 30/11/2011, Công an thành phố T, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 332 đối với Lưu Văn H về hành vi Tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, phạt 750.000 đồng. Nộp phạt ngày 01/12/2011.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/9/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V (có mặt).
Bị hại: Ông Trần Văn L, sinh năm 1963; địa chỉ: TDP B, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 3/2022, ông Trần Văn L đến nhà ông Đỗ Văn T1 chơi và nói chuyện với ông T1 về việc con trai ông là H1 bị Cơ quan điều tra Công an huyện B khởi tố về tội Cố ý gây thương tích, do sợ con trai bị án phạt tù nên ông L muốn xin cho H1 được hưởng án treo. Do trước đó Lưu Văn H (là hàng xóm với ông T1) có nói chuyện là H đang làm việc ở Phòng C Công an tỉnh V nên ông T1 nghĩ H có thể giúp được ông L. Sau đó, ông T1 nói chuyện với H về việc ông L muốn xin cho H1 hưởng án treo, sau khi nghe ông T1 nói chuyện, H nảy sinh ý định lừa ông L để chiếm đoạt tiền nên H nói với ông T1 là H có khả năng xin cho H1 được hưởng án treo và bảo ông T1 đưa đến nhà gặp ông L.
Tại nhà ông L, H tiếp tục giới thiệu với ông L, H đang công tác tại Phòng PC02 - Công an tỉnh V và để xin được cho H1 hưởng án treo ông L phải đưa 80.000.000đồng cho H thì ông L nói chỉ có 50.000.000 đồng, H đồng ý. Do tin tưởng H nên ông L đã đưa cho H 50.000.000 đồng. Khoảng 1 tháng sau, H gọi điện thoại cho ông L nói “Hiếu bị xử lý khoản 2 về tội Cố ý gây thương tích, nên cần 100.000.000₫ mới xin được hưởng án treo” ý của H là bảo ông L đưa thêm cho H 50.000.000đồng, ông L đồng ý. Khoảng 1 tháng sau đó, H liên tục gọi điện thoại bảo ông L đưa thêm tiền, ông L đã đưa cho H 01 lần 29.000.000₫, 01 lần 20.000.000đ. Đến ngày 29/08/2022, H1 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên xử 03 năm tù giam thì ông L nói với H “Sao để Tòa xử em 36 tháng từ” thì H nói để H hướng dẫn làm đơn lên tỉnh phúc thẩm, đồng thời H bảo ông L phải đưa cho H 30.000.000đ. Khoảng gần 01 tháng sau, ông L đưa cho H 28.000.000đ. Đến đầu năm 2023, ông L không thấy tòa xử phúc thẩm, anh H1 con trai ông vẫn phải chấp hành hình phạt tù nên ông L gọi H đến nhà nói chuyện yêu cầu H trả cho ông số tiền 127.000.000đ. Tuy nhiên, H không trả tiền cho ông L mà bỏ trốn sang Myanmar. Đến ngày 26/9/2024 bị CQĐT Công an huyện B bắt tạm giam.
Quá trình điều tra xác định H còn vay của ông L số tiền 5.000.000đ, ông L đã nhiều lần yêu cầu H trả cho ông nhưng đến nay H vẫn chưa trả cho ông L số tiền này.
Tổng số tiền ông L đã đưa cho H là 132.000.000đ (trong đó có 127.000.000 đồng là tiền ông L đưa H để xin cho H1 được hưởng án treo và 5.000.000 đồng ông L cho H vay).
Ngày 08/10/2023, ông Trần Văn L có đơn trình báo đề nghị CQĐT Công an huyện B làm rõ và xử lý đối với H về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Tại Cơ quan điều tra, Lưu Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Với nội dung nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2025/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Lưu Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Lưu Văn H 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 26/9/2024.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/4/2025 bị cáo H có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Văn H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2025/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên về hình phạt.
Tuyên bố bị cáo Lưu Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Lưu Văn H 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam từ ngày 26/9/2024.
Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, đơn hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét giải quyết.
Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan, của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được cơ quan điều tra thu thập khách quan, đúng pháp luật. Từ đó có đủ căn cứ xác định:
Do không có tiền chi tiêu cá nhân nên khi biết ông Trần Văn L muốn xin cho con trai đang bị Cơ quan điều tra Công an huyện B khởi tố về tội Cố ý gây thương tích được hưởng án treo. H đã dùng thủ đoạn gian dối nói mình là cán bộ Công an tỉnh có thể xin cho H1 được hưởng án treo để lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông L. Do tin tưởng H nói là thật nên ông L đã đưa cho H tổng số tiền 127.000.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt H đã chi tiêu cá nhân hết.
[3]. Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Lưu Văn H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4]. Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của Lưu Văn H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tích cực khắc phục hậu quả, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại cấp phúc thẩm anh Lưu Văn Q là anh trai ruột bị cáo đã xuất trình giấy chứng nhận của UBND thị trấn Q, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên về việc gia đình bị cáo Lưu Văn H đã ủng hộ phong trào thi đua “Mở rộng đường tổ dân phố từ 6m đến 7m”.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo nhiều lần có hành vi gian dối yêu cầu ông L đưa tiền nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần.
Trong vụ án này bị cáo H có thủ đoạn gian dối ngay từ ban đầu nói mình là cán bộ Công an tỉnh để lừa ông H nhằm chiếm đoạt số tiền 127.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động tư pháp, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào cơ quan bảo vệ pháp luật. Ngoài ra về nhân thân, bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xử phạt 36 tháng tù về tội Cướp tài sản và xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng. Sau khi chấp hành hình phạt, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, cải tạo sửa chữa bản thân, mà tiếp tục thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối thể hiện hành vi coi thường pháp luật.
Do đó cấp sơ thẩm sau khi xem xét nhân thân, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và xử phạt bị cáo 4 năm tù là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo H cần giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[5] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩmn là có căn cứ.
[6]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7]. Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lưu Văn H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2025/HSST ngày 28 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên về hình phạt.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo H phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Tuyên bố bị cáo Lưu Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Xử phạt Lưu Văn H 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam từ ngày 26/9/2024.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Thúy Mai |
Bản án số 68/2025/HS-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự phúc thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 68/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
