|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 68/2025/HS-PT Ngày: 18 - 3 - 2025. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Phương.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hằng; Bà Lê Thị Thanh Huyền.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nữ Hoàng Yến - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2025/TLPT-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo Hoàng T, Hoàng Văn S do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST, ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Hoàng T, sinh ngày 24/9/1994, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng T1, sinh năm 1968 và con bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1970; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Hoài N, sinh năm 1995 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2024 đến ngày 17/8/2024; tạm giam từ ngày 18/8/2024 đến ngày 10/10/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B, tỉnh Đăk Lăk. Sau đó áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh từ ngày 11/10/2024 đến ngày 10/12/2024, đến ngày 09/12/2024 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Hoàng Văn S (Tên gọi khác: T3), sinh ngày 01/02/1993, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn 12/12: Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng D, sinh năm 1966 và con bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1967; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 12/10/2020 bị cáo bị Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng, về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (đã chấp hành xong).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/8/2024 đến ngày 17/8/2024; tạm giam từ ngày 18/8/2024 đến ngày 10/10/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. Áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/10/2024 tại xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu năm 2024, tại thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị. Bị cáo Hoàng T, đã tạo lập tài khoản “voraravo103@gmail.com và trang Web có chủ đề là “Bình chọn cuộc thi vẽ tranh năm 2024", từ trang Web, T tạo đường link https://binhchoncuocthivetranh2024. weebly.com/index.html, đồng thời chia sẻ đường link này cho bị cáo Hoàng Văn S, trú cùng thôn để thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi chiếm được tài khoản Facebook của các bị hại, T và S vào ứng dụng Messenger của các bị hại nhắn tin cho người thân, bạn bè của họ để lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Bị cáo Hoàng T đã trực tiếp thực hiện các vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể:
Vụ thứ nhất:
Vào ngày 06/3/2024, T chiếm được quyền sử dụng tài khoản Facebook tên là “La Như C” của anh La Như C, sinh năm 1994, trú thôn G, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, rồi dùng ứng dụng Messenger nhắn tin lừa đảo mượn tiền tài khoản “Nguyễn Văn T4” của anh Nguyễn Văn T4, sinh năm 1997, trú tại B L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk là bạn của anh C. Sau đó, T gửi số tài khoản mua của ngân hàng V1 (V2) số 46761606468 mang tên La Nhu C1. Do tin tưởng, anh T4 dùng tài khoản ngân hàng V3 của mình số [...] chuyển khoản 3.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng tên La Nhu C1 và T đã chiếm đoạt số tiền trên.
Vụ thứ hai:
Vào ngày 07/3/2024, T chiếm được quyền sử dụng tài khoản Facebook tên “Bống Beng” của chị Nông Thị Hoa B, sinh năm 1994, trú thôn A, xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk. T mua tài khoản online ngân hàng V1 (V2) mang tên “Nong Thi Hoa Ban” với các số tài khoản là “318021098”, “318012512” và “318017069” để nhận tiền lừa đảo. Sau đó, T dùng ứng dụng Messenger đăng nhập tài khoản của “Bống Beng” nhắn tin cho nhiều tài khoản để lừa đảo vay mượn tiền và chiếm đoạt gồm:
T nhắn tin cho tài khoản Facebook “Hứa Biện” của bà Hứa Thị B1, sinh năm 1966, trú thôn A, xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, là mẹ của chị B để nhờ chuyển số tiền là 10.000.000 đồng tới tài khoản “318021098” mang tên “Nong Thi Hoa Ban”, kèm theo nội dung là cần gấp số tiền này và hiện tại đang bận không thể nghe máy khi có cuộc gọi từ “Hứa Biện”. Do tin tưởng, bà B1 đã nhờ bà Lộc Thị D1, sinh năm 1974, trú thôn A, xã E, thị xã B, chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng V3 số [...] đến tài khoản ngân hàng tên “Nong Thi Hoa B” số tiền 10.000.000 đồng và T đã chiếm đoạt số tiền trên.
T nhắn tin cho tài khoản Facebook “Sáng Samsung” của anh Lý Văn S1, sinh năm 1995, trú thôn B, xã E, thị xã B, là bạn của chị B để nhờ chuyển số tiền là 10.000.000 đồng tới số tài khoản 318012512, mang tên “Nong Thi Hoa B” mở tại ngân hàng V2. Anh S1 tin tưởng đã chuyển khoản 10.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng V4 số 1031287720 đến tài khoản ngân hàng tên “Nong Thi Hoa B” số tiền 10.000.000 đồng và T đã chiếm đoạt số tiền trên.
T nhắn tin cho tài khoản Facebook “Đàm Loan” của chị Đàm Thị L, sinh năm 1993, trú thôn Q, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, là bạn của chị B để mượn tiền và lừa được chị L chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng V4 số 0871004251752 của chị L hai lần, một lần 10.000.000 đồng và một lần 8.000.000 đồng đến tài khoản V2 số [...] tên Nong T5 Hoa B và T chiếm đoạt tổng số tiền 18.000.000 đồng.
Vụ thứ ba:
Ngày 08/3/2024, từ tài khoản mang tên “Bống Beng”, T dùng ứng dụng Messenger nhắn tin lừa đảo tài khoản “Cherry V” của chị Vũ Thị Đ, sinh năm 1999, trú tại buôn A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk, là họ hàng của chị B hỏi vay tiền chuyển qua tài khoản ngân hàng V2 số [...] tên N Hoa Ban. Do tin tưởng nên chị Đ đã chuyển khoản 10.000.000 đồng từ số tài khoản của chị Đ mở tại ngân hàng L6 (L7) số [...] vào tài khoản ngân hàng T7 B và T đã chiếm đoạt số tiền trên.
Ngoài ra, bị cáo Hoàng T đã chia sẻ đường link cho bị cáo Hoàng Văn S để thực hiện 04 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể:
Vụ thứ nhất:
Vào ngày 04/02/2024, S chiếm quyền sử dụng tài khoản Facebook “Loan D2” của chị Đặng Thị L1, sinh năm 1990, trú TDP B, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, rồi dùng ứng dụng Messenger nhắn tin lừa đảo mượn tiền tài khoản “Khanh Nguyen” của chị Nguyễn Thị Kim K, sinh năm 1990, trú tại TDP C, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk là em họ của chị L1. S gửi tài khoản ngân hàng V2 số [...] tên “Nguyen Thi No” cho chị K. Chị K tin tưởng đã chuyển khoản hai lần, lần thứ nhất từ tài khoản ngân hàng V4 số 0231000653117 vào tài khoản ngân hàng tên “Nguyen Thi N1” số tiền 4.200.000 đồng và lần thứ hai là 3.800.000 đồng, tổng số tiền S chiếm đoạt của chị K là 8.000.000 đồng.
Vụ thứ hai:
Vào ngày 19/02/2024, S chiếm quyền sử dụng tài khoản Facebook "Lien Nguyen” của chị Nguyễn Thị L2, sinh năm 1985, trú TDP B, phường A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, rồi dùng ứng dụng Messenger nhắn tin lừa đảo mượn tiền tài khoản “Đặng Kiều” của bà Đặng Thị K1, sinh năm 1970, trú tại phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh là mợ của chị L2. Đầu tiên S gửi tài khoản ngân hàng V2 tên Nguyen Thi L3 nhưng bị lỗi nên không nhận được tiền. Sau đó, S gửi số tài khoản ngân hàng V4 số 0071000743033 tên Pham Van H cho bà K1, bà K1 tin tưởng dùng tài khoản ngân hàng V4 số 0001035839812 chuyển khoản 10.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng tên Pham Van H và S đã chiếm đoạt số tiền trên.
Vụ thứ ba:
Vào ngày 06/3/2024, S đã chiếm quyền sử dụng tài khoản Facebook “Loan L4” của chị Lê Thị Kim L5, sinh năm 1996, trú TDP D, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk rồi dùng ứng dụng Messenger nhắn tin lừa đảo tài khoản “Mỹ Ngọc” của chị Lê Thị N2, sinh năm 1993, trú TDP D, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, là chị gái của chị L5 để vay mượn tiền và gửi tài khoản ngân hàng V2 số [...] tên Nguyen Thi Bich H1. Chị N2 tin tưởng đã chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng S2 số [...] vào tài khoản tên Nguyen Thi Bich H1 hai lần với tổng số tiền là 5.000.000 đồng (lần đầu 2.000.000 đồng, lần hai 3.000.000 đồng). Tồng số tiền S chiếm đoạt là 5.000.000 đồng.
Vụ thứ tư:
Ngày 13/3/2024, S chiếm quyền sử dụng tài khoản Facebook “Đỗ Thị Bích N3” của chị Đỗ Thị Bích N3, sinh năm 1988, trú thôn A, xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, rồi dùng ứng dụng Messenger nhắn tin lừa đảo chiếm đoạt tiền qua số tài khoản ngân hàng V2 số “318649391” và “318641102” mang tên Do Thi Bich N4, cụ thể:
S nhắn tin lừa tài khoản Facebook “Diep Ha” của chị Hà Thị Đ1, sinh năm 1986, trú thôn B, xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk, là bạn của chị N3 để mượn tiền qua tài khoản ngân hàng V5 số [...] mang tên Do Thi Bich N4. Chị Đ1 tin tưởng chuyển khoản 10.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng M số 0862890507 đến tài khoản ngân hàng mang tên Do Thi Bich N4 và S đã chiếm đoạt số tiền này.
S nhắn tin lừa tài khoản Facebook “Quynh Nga D3” của chị Đặng Thị Quỳnh N5, sinh năm 1996, trú thôn F, xã E, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk là cháu của chị N3 để mượn tiền qua tài khoản ngân hàng V5 số [...] mang tên Do Thi Bich N4. Chị N5 tin tưởng nên nhờ bạn tên Nông Thị N6 chuyển khoản 1.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng B2 số 8890006997 vào tài khoản ngân hàng tên Do T6 Bich N4 và S đã chiếm đoạt số tiền này.
Tổng cộng, bị cáo Hoàng T đã chiếm đoạt tài sản của 10 bị hại, tổng số tiền 85.000.000 đồng (tám mươi lăm triệu đồng); Bị cáo Hoàng Văn S đã chiếm đoạt tài sản của 05 bị hại tổng số tiền 34.000.000 đồng (ba mươi tư triệu đồng).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng T và Hoàng Văn S, phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ theo điểm b, c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng T 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án (được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2024 đến ngày 10/10/2024).
Căn cứ khoản 1 Điều 174; các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn S 01 (một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án (được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2024 đến ngày 10/10/2024).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/01/2024, các bị cáo Hoàng T, Hoàng Văn S có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.
Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Hoàng T, Hoàng Văn S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về mức hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Hoàng T với mức hình phạt 03 năm tù, bị cáo Hoàng Văn S với mức hình phạt 01 năm 03 tháng tù là thỏa đáng và tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Bản án sơ thẩm cũng đã xem xét đến nhân thân của các bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm trách nhiệm hình sự, tuy nhiên các bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo có cung cấp đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại, tuy nhiên mức hình phạt áp dụng với các bị cáo là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo Hoàng T, Hoàng Văn S không tranh luận, bào chữa gì thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng đầu năm 2024, tại thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị. Bị cáo Hoàng T, đã tạo lập tài khoản “voraravo103@gmail.com và trang Web có chủ đề là “Bình chọn cuộc thi vẽ tranh năm 2024", từ trang Web, T tạo đường link https://binhchoncuocthivetranh2024.weebly.com/index.htmlđồng thời chia sẻ đường link này cho bị cáo Hoàng Văn S, trú cùng thôn để thực hiện hành vi phạm tội. Sau khi chiếm được tài khoản Facebook của các bị hại, T và S vào ứng dụng Messenger của các bị hại nhắn tin cho người thân, bạn bè của họ để lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đối với bị cáo Hoàng Văn S đã chiếm đoạt tài sản của 05 bị hại tổng số tiền 34.000.000 đồng (ba mươi tư triệu đồng). Đối với bị cáo Hoàng T phải chịu trách nhiệm đối với 10 bị hại bị chiếm đoạt tài sản với tổng số tiền 85.000.000 đồng (tám mươi lăm triệu đồng), trong đó bản thân bị cáo đã trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của 05 bị hại với số tiền là 51.000.000 đồng và 05 bị hại do bị cáo Hoàng Văn S thực hiện với số tiền là 34.000.000 đồng do bị cáo đã chia sẻ đường link cho bị cáo Hoàng Văn S để cùng thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Hoàng T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm b, c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự, bị cáo Hoàng Văn S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo Hoàng T, Hoàng Văn S xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, nhận thấy:
Mức hình phạt 03 năm tù đối với bị cáo Hoàng T; 01 năm 03 tháng tù đối với bị cáo Hoàng Văn S mà Bản án sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo cung cấp đơn xin giảm nhẹ hình phạt của bị hại, tuy nhiên Bản án sơ thẩm cũng đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo và mức hình phạt mà các bị cáo được áp dụng là phù hợp nên Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt.
[7] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Hoàng T, Hoàng Văn S.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 44/2024/HS-ST ngày 24/12/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.
Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng T và Hoàng Văn S (T3), phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
[2] Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng T 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án (được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2024 đến ngày 10/10/2024).
- Áp dụng khoản 1 Điều 174; các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn S (T3) 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án (được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2024 đến ngày 10/10/2024).
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Hoàng T, Hoàng Văn S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Duy Phương |
Nơi nhận:
- - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
- - VKSND tỉnh Đắk Lắk (02 bản);
- - Phòng HSNV Công an tỉnh Đắk Lắk;
- - VP CQCSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk;
- - Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Lắk;
- - TAND thị xã Buôn Hồ;
- - VKSND thị xã Buôn Hồ;
- - Công an thị xã Buôn Hồ;
- - Chi cục THADS thị xã Buôn Hồ;
- - THAHS thị xã Buôn Hồ;
- - Bị cáo;
- - Lưu: HS.
Bản án số 68/2025/HS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 68/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
