Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2025/HN-ST

Ngày: 18/3/2025

V/v "Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Trí, ông Võ Thanh Nhàn

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Nguyễn Phương Vy, Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kiều Tiên, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 555/2024/TLST-HN ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-HN ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Đỗ Thị Tú O, sinh năm 1971, cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

2. Bị đơn: ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1968, cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 01/10/2024, nguyên đơn bà Đỗ Thị Tú O trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn N sống chung với nhau, đến năm 2002 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 425 ngày 22/10/2002. Trong thời gian chung sống với nhau có hạnh phúc và sinh được 02 người con chung tên Nguyễn Thị Tú A, sinh ngày 25/5/1990, Nguyễn Anh T, sinh ngày 24/7/2006. Từ tháng 5 năm 2017 đến nay, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên gây gỗ, cãi vã nhau, mặc dù bà và ông N đã cố gắng sửa đổi bản thân để vợ chồng có thể hòa hợp cùng chung sống với nhau để xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng mọi cố gắng đều không có kết quả, vì vậy mâu thuẫn vợ chồng ngày trở nên gay gắt và trầm trọng hơn. Nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân không thể tồn tại nên bà yêu cầu ly hôn với ông N.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tú A, sinh ngày 25/5/1990, Nguyễn Anh T, sinh ngày 24/7/2006. Hiện nay hai con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 11/11/2024, bị đơn ông Nguyễn Văn N trình bày:

Ông và bà O tự tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C vào ngày 22/10/2002. Đối với yêu cầu ly hôn của bà O thì ông không đồng ý lý do bà O yêu cầu ông sang nhượng quyền sử dụng đất cho bà O để bà O vay tiền ngân hàng làm ăn, sau khi ông sang nhượng quyền sử dụng đất cho bà O xong thì bà O lại yêu cầu ly hôn với ông. Ông và bà O cũng có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, ông nhận thấy mâu thuẫn không lớn. Ông và bà O đã ly thân khoảng 02 năm, bà O thì sống tại căn tin ở trường học tọa lạc xã N, huyện C, tỉnh An Giang còn ông thì đang sống ở nhà tọa lạc ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Khi vợ chồng ly thân thì ông chủ động tìm bà O năn nỉ nhưng bà O không đồng ý.

Về con chung: có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tú A, sinh ngày 25/5/1990 (đã thành niên) và Nguyễn Anh T, sinh ngày 24/7/2006 (đã thành niên) nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: ông và bà O có tài sản chung gồm có: một phần đất ruộng diện tích khoảng 5900m², tọa lại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là ông và ông cũng là người trực tiếp canh tác trên đất nhưng bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này hiện do bà O đang giữ. Và một phần đất thổ cư, diện tích 135,8m² tọa lạc tại ấp M, xã M theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 06627QSDĐ/qB do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 31/10/2003, do bà Đỗ Thị Tú O đứng tên quyền sử dụng đất. Lý do ông xác định là 02 phần đất trên tài sản chung của vợ chồng là do ông và bà O có thỏa thuận là bà O sẽ để ông đại diện đứng tên đối với phần đất ruộng, còn ông sẽ để bà O đại diện đứng tên đối với phần đất thổ cư. Đối với tài sản chung của vợ chồng, ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.
  • - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 72, Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về việc giải quyết vụ án:
  • Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà O đối với ông N.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Đỗ Thị Tú O có đơn yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn N, ông N cư trú ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: bà O và ông N sống chung với nhau, đến năm 2002 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang nên quan hệ hôn nhân giữa bà O và ông N là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Bà O xác định vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và đã ly thân từ tháng 5 năm 2017 cho đến nay. Theo biên bản ghi lời khai ngày 11/11/2024 và tại phiên tòa hôm nay, ông N xác định ông và bà O cũng có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm dẫn đến cãi nhau, ông nhận thấy mâu thuẫn không lớn và vợ chồng đã ly thân khoảng 2 năm. Xét thấy, xuất phát từ mâu thuẫn trong thời gian chung sống nên bà O và ông N phát sinh mâu thuẫn, tuy ông N cho rằng mâu thuẫn không lớn nhưng vợ chồng đã ly thân khoảng 2 năm. Từ đó cho thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng nên bà O yêu cầu ly hôn với ông N là có căn cứ theo quy định Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà O.

[2.2] Về quan hệ con chung: 02 người con chung tên Nguyễn Thị Tú A, sinh ngày 25/5/1990, Nguyễn Anh T, sinh ngày 24/7/2006. Hiện nay hai con chung đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: bà O không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập giải quyết.

[2.4] Về án phí sơ thẩm: căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà O phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Ông N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Tú O.

- Về quan hệ hôn nhân: bà Đỗ Thị Tú O được ly hôn với ông Nguyễn Văn N.

- Về án phí sơ thẩm:

Bà Đỗ Thị Tú O phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013259 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 01 tháng 10 năm 2024.

Ông Nguyễn Văn N không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Chợ Mới;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS H. Chợ Mới;
  • - UBND xã nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/HN-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 68/2025/HN-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 18 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 555/2024/TLST-HN ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2025/QĐXXST-HN ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: bà Đỗ Thị Tú O, sinh năm 1971, cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt). 2. Bị đơn: ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1968, cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger