Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 27 – 02 – 2025
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình,
ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Bích Loan và ông Nguyễn Thế Hùng.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 07/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46A/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1992; địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang.

Bà Nguyễn Thị L vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; ông Trần Văn T có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của bà Nguyễn Thị L; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Trần Văn T tiến đến hôn nhân vào năm 2008 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện A, tỉnh An Giang (theo Trích lục kết hôn số 2914/TLKH-BS ngày 30/12//2024). Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã. Cả 02 đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2023 cho đến nay. Sau đó, bà L đã khởi kiện ly hôn ông T tại Tòa án. Quá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải cho bà L và ông T được đoàn tụ, bà L đã rút lại yêu cầu khởi kiện ly hôn. Sau khi chung sống được vài tháng thì bà L và ông T tiếp tục sống ly thân nhau do không thể hàn gắn tình cảm. Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông T.

Về con chung: Quá trình chung sống có 03 con chung, gồm: cháu Trần Thị Như Ý, sinh ngày 14/4/2009; cháu Trần Văn T1, sinh ngày 16/6/2013 và cháu Trần Thị Diễm M, sinh ngày 13/10/2019. Hiện các con chung đang sống cùng ông T, bà L đồng ý để ông T được tiếp tục nuôi dạy các con chung, bà L không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Văn T cho biết:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị L tự tìm hiểu rồi tiến đến hôn nhân vào năm 2008 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện A, tỉnh An Giang (theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 215/2009 ngày 20/10/2009). Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã, nguyên nhân là do bà Nguyễn Thị L thay lòng đổi dạ. Ông T đã cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng bà L không đồng ý hàn gắn. Bà L đã từng khởi kiện ly hôn, Tòa án đã hòa giải hàn gắn tình cảm cho cả hai nên bà L đã rút lại đơn khởi kiện. Sau khi được sự hòa giải của Tòa án thì ông T và bà L sống với nhau được vài tháng thì bà L tiếp tục sống ly thân với ông T từ 04 tháng nay. Do vẫn còn tình cảm nên Ông T không đồng ý ly hôn với bà L.

Về con chung: Quá trình chung sống có 03 con chung như lời bà L trình bày. Hiện các con chung đang sống cùng ông T nên ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy các con chung, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 10/02/2024, bà L có đơn cầu yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải và yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử do bận công việc làm ăn.

- Về tài liệu, chứng cứ:

Tài liệu, chứng cứ do bà Nguyễn Thị L giao nộp: Trích lục kết hôn (bản sao); Bản tự khai của bà Nguyễn Thị L (bản chính); Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị L (photo); Căn cước công dân mang tên Trần Văn T (photo); Giấy khai sinh Trần Thị Như Ý (bản sao); Giấy khai sinh Trần Văn T1 (bản sao); Giấy khai sinh Trần Thị Diễm M (bản sao).

Tài liệu, chứng cứ do ông Trần Văn T giao nộp: Không có.

Tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Các biên bản lấy lời khai người làm chứng; biên bản xác minh tại Ban ấp B và biên bản xác minh tại Hội Liên hiệp Phụ nữ xã N cùng ngày 21/02/2025.

Tại phiên tòa, ông T không đồng ý ly hôn do vẫn còn thương yêu vợ con, giữ nguyên yêu cầu được nuôi dạy 03 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung. Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án:

Theo biên bản lấy lời khai của người làm chứng, bà Huỳnh Thị S và bà Huỳnh Thị Q cùng cho biết: Thống nhất lời trình bày của bà T2 về thời gian và điều kiện đi đến hôn nhân, về con chung, về nguyên nhân mâu thuẫn. Bà L và ông T đã từng được Tòa án hòa giải đoàn tụ, chỉ chung sống lại một thời gian rồi tiếp tục ly thân. Bà S và bà Q yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án triệu tập tham gia xét xử.

Theo Biên bản ghi nhận ý kiến con chưa thành niên ngày 21/01/2025, cháu Trần Thị Như Ý và cháu Trần Văn T1 đều có nguyện vọng sống cùng ông T. Ngoài ra, cháu Trần Thị Như Ý còn cho biết cha mẹ chung sống không hạnh phúc, ông T hay ghen tuông, cháu Như Ý mong muốn Tòa án sớm giải quyết cho cha mẹ ly hôn.

Theo biên bản xác minh ngày 11/02/2025, đại diện Ban ấp B, xã N và Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã N cùng cho biết: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1992 và ông Trần Văn T, sinh năm 1987 chung sống với nhau không hạnh phúc, nhiều lần sống ly thân rồi hàn gắn. Cả 02 đã từng được Tòa án hòa giải và được sự động viên của gia đình, sau đó đoàn tụ được vài tháng rồi tiếp tục phát sinh mâu thuẫn, tiếp tục sống ly thân. Cả 02 chung sống có 03 con chung là các cháu Trần Thị Như Ý, cháu Trần Văn T1 và cháu Trần Thị Diễm M.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Bà Nguyễn Thị L và ông Trần Văn T đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Theo trình bày của bà L và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định mâu thuẫn hôn nhân giữa bà L và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Do đó, đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L; về con chung: Đề nghị giao 03 con chung cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng, bà L không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và về nợ chung: Bà L và ông T không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết.

Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị L có đơn yêu cầu vắng mặt khi vụ án được đưa ra xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền giải quyết:

Ông Trần Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định tại khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn gia đình giữa bà Nguyễn Thị L và ông Trần Văn T là do ông T có hành vi ghen tuông. Bà L và ông T đã nhiều lần sống ly thân, rồi đoàn tụ. Cả 02 cũng đã được sự hòa giải động viên của Tòa án, gia đình nhưng vẫn không thể hàn gắn. Ông T cho rằng vẫn còn thương yêu vợ, con nên không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, ông T lại không đưa ra được giải pháp để vợ chồng có thể hàn gắn tình cảm, cũng như không đưa ra được lời cam kết sẽ thay đổi bản thân để thuyết phục được bà L đoàn tụ vợ chồng. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn gia đình giữa bà L và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được ly hôn của bà L theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung: Quá trình chung sống, bà L và ông T có 03 con chung, gồm: cháu Trần Thị Như Ý, sinh ngày 14/4/2009; cháu Trần Văn T1, sinh ngày 16/6/2013 và cháu Trần Thị Diễm M, sinh ngày 13/10/2019. Cả ba chung hiện đang sống cùng ông T. Sau khi xem xét nguyện vọng của con chung, ý kiến trình bày của bà L và ông T. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận để ông T được trực tiếp nuôi dạy 03 con chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã giải thích cho bà L và ông T về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với người không trực tiếp nuôi con chung, cũng như nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con chung, nhưng ông T vẫn giữ nguyên ý kiến của mình về việc không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định công nhận sự tự nguyện của ông T trong việc không yêu cầu bà L cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Bà Nguyễn Thị L cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của ông Trần Văn T. Ngược lại, ông Trần Văn T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở bà Nguyễn Thị L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà L và ông T khai không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; ông Trần Văn T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bà L và ông T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 91; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; các điều 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Trần Văn T.
  2. Về con chung: Ông Trần Văn T được trực tiếp nuôi dạy 03 (ba) con chung tên: Trần Thị Như Ý, sinh ngày 14/4/2009; Trần Văn T1, sinh ngày 16/6/2013 và Trần Thị Diễm M, sinh ngày 13/10/2019. Bà Nguyễn Thị L không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.

    Bà Nguyễn Thị L cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của ông Trần Văn T. Ngược lại, ông Trần Văn T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở bà Nguyễn Thị L trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

    Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

  3. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010252 ngày 09/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang. Bà Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí.

    Ông Trần Văn T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai có mặt ông Trần Văn T, vắng mặt bà Nguyễn Thị L. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông T có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng bà L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện An Phú;
  • - THADS huyện An Phú;
  • - UBND xã Nhơn Hội, huyện An Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 68/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L và ông Trần Văn T tiến đến hôn nhân vào năm 2008 và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện A, tỉnh An Giang (theo Trích lục kết hôn số 2914/TLKH-BS ngày 30/12//2024). Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã. Cả 02 đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2023 cho đến nay. Sau đó, bà L đã khởi kiện ly hôn ông T tại Tòa án. Quá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải cho bà L và ông T được đoàn tụ, bà L đã rút lại yêu cầu khởi kiện ly hôn. Sau khi chung sống được vài tháng thì bà L và ông T tiếp tục sống ly thân nhau do không thể hàn gắn tình cảm. Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông T. Về con chung: Quá trình chung sống có 03 con chung, gồm: cháu Trần Thị Như Ý, sinh ngày 14/4/2009; cháu Trần Văn T1, sinh ngày 16/6/2013 và cháu Trần Thị Diễm M, sinh ngày 13/10/2019. Hiện các con chung đang sống cùng ông T, bà L đồng ý để ông T được tiếp tục nuôi dạy các con chung, bà L không cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger