TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ TỈNH SÓC TRĂNG
| CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST. Ngày 09-12-2024. V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Kha.
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Quách Thị Hải Yến
Ông Ngô Hoàng Hiệp
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Ni – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thư – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 171/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 239/2024/QĐXX-DS ngày 29 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Vân N, sinh ngày 20/06/1990 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng
- Bị đơn: Anh Lê Văn B, sinh năm 1989. (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn kiện ngày 10/10/2024 và tại phiên toà nguyên đơn trình bày: Chị N và anh B cưới nhau năm 2023, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng ngày 16/01/2023. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, tính cách không hoà hợp, thường xuyên cãi vã, anh B hay ghen chị đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành nên không thể tiếp tục chung sống, chị N yêu cầu được ly hôn với anh B.
Về con chung: Trong thời gian chung sống vợ chồng có một người con chung tên Lê Hà Bảo M, sinh ngày 07/07/2024, hiện con đang sống chung với chị N, chị N yêu cầu được quyền nuôi con và yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên Tòa chị N rút lại yêu cầu khởi kiện anh B cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi) còn những nội dung khởi kiện khác vẫn giữ nguyên.
- Bị đơn anh Lê Văn B vắng mặt tại phiên Tòa nhưng có lời trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 29/10/2024, như sau:
Anh và chị N tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định, sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do chuyện tiền bạc giữa vợ chồng từ đó vợ chồng thường xuyên cải vã nên anh và chị N đã sống ly thân từ tháng 10/2024 cho đến nay, anh B yêu cầu được hàn gắn, anh cũng đã nhiều lần khuyên chị N nhưng chị N không đồng ý nên nếu chị N cương quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý.
Về con chung: Trong thời gian chung sống anh và chị N có 01 người con chung tên Lê Hà Bảo M, sinh ngày 07/07/2024, hiện con đang sống chung với chị N, anh đồng ý giao con cho chị N tiếp tục chăm sóc đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), về cấp dưỡng nuôi con hiện nay do anh không có công việc ổn định nên anh không đồng ý cấp dưỡng nuôi con, khi nào anh có công việc anh sẽ cho con.
Về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
Từ khi thụ lý đến kết thúc phần tranh luận tại phiên tòa, Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa, các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị Vân N được ly hôn với bị đơn anh Lê Văn B, về con chung: Giao con cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng. Tài sản chung, nợ chung do các bên đương sự không yêu cầu nên đề nghị không giải quyết. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con. Về án phí sơ thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị Vân N phải chịu theo quy định, bị đơn anh Lê Văn B không phải chịu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn có nơi cư trú tại huyện T, tỉnh Sóc Trăng nên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng thụ lý và giải quyết là đúng theo qui định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã được triệu tập hợp lệ nguyên đơn có mặt bị đơn vắng mặt không có lý do dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Vân N: Chị N và anh B tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã T cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật. Chị N yêu cầu ly hôn vì cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, chị không thể tiếp tục chung sống, anh B có lời trình bày nếu chị N kiên quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý. Tại phiên Tòa chị N vẫn kiên quyết ly hôn không đồng ý hàn gắn. Nhận thấy hôn nhân giữa chị N và anh B đã mâu thuẫn không thể hàn gắn được do chị N đã kiên quyết ly hôn nên mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị N và anh B ly hôn là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 55 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị N và anh B có 01 người con chung tên Lê Hà Bảo M, sinh ngày 07/07/2024, hiện con đang do chị N nuôi dưỡng, chị N yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy con chung là cháu M hiện còn nhỏ, đã sống ổn định với chị N từ khi sinh ra cho đến nay và hiện mới hơn 05 tháng tuổi và anh B đồng ý giao con cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 và khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình giao cháu M cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi) nhưng tại phiên tòa chị N rút lại yêu cầu này, việc rút lại là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ yêu cầu khởi kiện này của chị N.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn thống nhất không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Vân N phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng, anh Lê Văn B không phải chịu án phí theo quy định tại điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
[5] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên Toà là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị Vân N được ly hôn với bị đơn anh Lê Văn B.
- Về con chung: Giao cháu Lê Hà Bảo M, sinh ngày 07/07/2024 cho chị Nguyễn Thị Vân N tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Lê Văn B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Vân N đối với yêu cầu bị đơn anh Lê Văn B cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.
- Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Vân N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai thu số 0004065 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Trị, chị N đã nộp xong án phí. Anh Lê Văn B không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự có mặt tại phiên Tòa) và trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hợp lệ (đối với đương sự vắng mặt tại phiên Tòa) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Tuyết Kha |
Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Nguyễn Thị Vân Nhi yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn BẢo
