Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TRÀ VINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
Bản án số: 68/2024/HS-PT
Ngày: 04-12-2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành

Các Thẩm phán: Ông Ngô Đê

Ông Huỳnh Đắc Đương

Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Ái M - Kiểm sát viên.

- Hỗ trợ phiên tòa trực tuyến tại điểm cầu thành phần: Ông Huỳnh Quốc H - Cán bộ Trại tạm giam Công an tỉnh T.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh T mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 82/2024/HSPT, ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Thạch P, do có kháng cáo của bị cáo Thạch P đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2024/HSST ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

Bị cáo có kháng cáo: Thạch Phong, sinh ngày 01/01/1993, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi ĐKTT: Không có; Nơi cư trú: Số H, khóm D, phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Thạch C, sinh năm 1960 (đã chết) và bà Phan Thị Thu H1, sinh năm 1962; tiền án: không; tiền sự: 01 tiền sự về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác bị Công an huyện C, tỉnh Trà Vinh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 5.000.000 đồng (Quyết định số 01 ngày 06/01/2023, hiện đã chấp hành đóng phạt xong). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/10/2023 đến ngày 09/11/2023 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra trong vụ án còn các bị cáo Nguyễn Kim Sơn T, Lâm Thanh N, Nguyễn Thị Hồng N1, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan do không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên không triệu tập ra phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 45 phút ngày 29/10/2023, bị cáo Thạch P đang ăn uống tại nhà của bị cáo ở số H thuộc khóm D, phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh cùng với vợ chồng B (không rõ họ tên, địa chỉ) và H2 (không rõ họ tên, địa chỉ) thì có người tên C1, khoảng 40 tuổi ở tỉnh Sóc Trăng (không rõ họ tên, địa chỉ) là bạn trước đây của bị cáo P khi còn làm việc ở tỉnh Sóc Trăng, cùng với một người bạn của C1 (không rõ họ tên, địa chỉ) cũng đến chơi. Bị cáo P cùng với những người trên nói chuyện, ăn uống tại phòng ngủ lớn. Nói chuyện được một lúc thì C1 hỏi bị cáo P có ai bán ma túy khây (Ketamine) không, mua về chơi, tiền mua ma túy thì C1 trả. Bị cáo P không biết người bán ma túy khây nên mới liên hệ qua ứng dụng Messenger kêu bị cáo Nguyễn Kim Sơn T mua dùm 02 (hai) bịch ma túy khây với giá 5.000.000 đồng và rủ bị cáo T cùng bị cáo Lâm Thanh N (sống chung với nhau như vợ chồng) qua nhà P chơi ma túy thì T đồng ý. Bị cáo T dùng điện thoại sử dụng chung với bị cáo N điện thoại cho T1 (không rõ họ tên, địa chỉ) qua số điện thoại 0339.504.xxx hỏi mua 02 (hai) bịch ma túy khây với giá 5.000.000 đồng rồi chỉ đường hẹn T1 giao ma túy tại nhà bị cáo P. Bị cáo T dùng chiếc xe mô tô hiệu Classico, màu vàng đen, biển số 84D1-211.70 chở bị cáo N qua nhà bị cáo P. Trên đường đi qua nhà bị cáo P thì T1 có điện thoại lại cho bị cáo T nhưng N nghe máy (bị cáo N không biết trước đó T có liên hệ với T1 để hỏi mua ma túy) và T1 hỏi còn 2,5 viên ma túy thuốc lắc (MDMA) bị cáo N có mua hay không, bị cáo N nói không có tiền để mua thì T1 nói cho bị cáo N không có lấy tiền, N đồng ý và có nói cho bị cáo T biết nhưng T không có nghe việc này. Sau đó bị cáo N nói T ghé đối diện quán H3 trên đường D thuộc Khóm D, Phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh để lấy đồ, bị cáo T không nói gì mà làm theo lời của N. Khi đến nơi bị cáo T đi vào bụi cây ven đường cách xe khoảng 05m để đi vệ sinh, lúc này T1 đi đến gặp bị cáo N và đưa cho N 2,5 viên ma túy thuốc lắc, khi nhận ma túy thì bị cáo N cất giấu trong cái ví nữ, màu đen có chữ CHANEL của mình rồi đợi bị cáo T ra xe và cùng lại nhà bị cáo P. Khi đến nhà bị cáo P thì T và N đi vào phòng ngủ lớn (phòng cuối căn nhà, cạnh phòng vệ sinh) nhưng do thấy đông người và không quen ai nên cả hai ra phòng ngủ nhỏ nằm, bị cáo N mới lấy ma túy thuốc lắc để vào ốp lưng điện thoại của mình. Một lúc sau thì T1 đi cùng với một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) đến nhà bị cáo P để giao ma túy, bị cáo T ra đón và dẫn T1 đi đến cửa phòng ngủ lớn để giao ma túy cho bị cáo P.

Lúc này bị cáo P không nhận ma túy mà chỉ bị cáo T đến gặp C1 để lấy tiền trả tiền ma túy, bị cáo T đến gặp C1 lấy 5.000.000 đồng rồi ra cửa trả tiền cho T1 và nhận 02 (hai) bịch ma túy khây mang vào đưa cho C1 rồi đi sang phòng nhỏ cùng với bị cáo N rồi cả hai đi mua đồ ăn cho con của N.

Lúc này tại nhà của bị cáo P còn có bị cáo P, C1, bạn của C1, vợ chồng B và H2 thì C1 nói với bị cáo P là lấy cho C1 cái dĩa để đựng ma túy khây thì bị cáo P đi ra ngoài lấy cái dĩa sứ màu trắng, có viền màu xanh đem vào phòng đưa cho C1 thì thấy đã có sẵn ống hút được cuộn tròn bằng tờ tiền Việt Nam 10.000 đồng. C1 lấy bịch ma túy khây đổ vào dĩa, dùng bật lửa và thẻ nhựa để xào ma túy khây. C1 dùng ống hút bằng tờ tiền Việt Nam mười 10.000 đồng sử dụng ma túy khây, sử dụng xong C1 đưa cho bạn của C1 sử dụng rồi đến bị cáo P sử dụng, vợ chồng người tên B và H2 không có sử dụng, sau đó bị cáo P mới mở nhạc thông qua loa và đèn laze tại phòng lớn nhà của bị cáo P để tạo cảm giác hưng phấn khi sử dụng ma túy khây. Khi bị cáo T và bị cáo N quay lại nhà của P thì cả hai vào phòng ngủ nhỏ nằm thì có bạn của H2 (không rõ họ tên, địa chỉ) bị cáo P mới gặp lần đầu đến, bị cáo N ra mở cửa rồi vào phòng ngủ nhỏ nằm bấm điện thoại, bị cáo T đi ra nhà bếp lấy cái dĩa sứ nhiều màu mang qua phòng ngủ lớn xin C1 một ít ma túy khây rồi mang về phòng ngủ nhỏ rồi tự làm ống hút bằng tờ tiền Việt Nam 10.000 đồng để sử dụng một mình.

Một lúc sau, bị cáo P qua phòng ngủ nhỏ rủ T và N sang phòng ngủ lớn để sử dụng ma túy cùng với bị cáo P và C1 thì cả hai đồng ý. Bị cáo T và N qua phòng ngủ lớn thì P có lấy dĩa ma túy khây đưa cho bị cáo T và bị cáo N sử dụng, khi sử dụng xong bị cáo N nằm nghe nhạc và nhắn tin cho bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 (sinh ngày 05/3/2007, nơi thường trú ấp G, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh) đến nhà bị cáo P để sử dụng ma túy thì bị cáo N1 đồng ý. Lúc này, bị cáo N có hỏi bị cáo P về việc cho N1 ngủ nhờ ở nhà P được không thì bị cáo P đồng ý. Đồng thời lúc này Nguyễn Như Ý (sinh ngày 16/7/1997, nơi thường trú ấp E, xã A, huyện C, là bạn gái của P) nhắn tin cho bị cáo N hỏi N có ở nhà bị cáo P hay không để Như Ý xuống chơi thì N trả lời có. Sau đó thì Ý điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WAVE a, màu xanh đen bạc, biển số 84L1-528.38 đến nhà bị cáo P, khi vào phòng ngủ lớn thì Ý thấy trong phòng đang mở nhạc, đèn nhấp nháy, trên sàn có dĩa ma túy khây, thẻ nhựa, ống hút được cuộn tròn bằng tờ tiền Việt Nam 10.000 đồng và bị cáo P, T đang nằm phê ma túy cùng với bạn của P. Sau đó bị cáo N và T có kêu Ý sử dụng ma túy nhưng Ý không sử dụng. Một lát sau thì bị cáo P mở cửa cho vợ chồng B, H2 và bạn của H2 ra về còn lại C1 và bạn của C1 ở lại, bị cáo P mệt nằm ngủ, còn ma túy thì để ở phòng lớn để ai có sử dụng thì sử dụng.

Một lúc sau thì bị cáo N1 đến nhà của bị cáo P và vào phòng ngủ lớn và ngồi cạnh bị cáo N, sau đó bị cáo N lấy 2,5 viên ma túy thuốc lắc từ ốp lưng điện thoại ra đưa cho bị cáo N1 nửa viên để bị cáo N1 sử dụng, còn lại 02 (hai) viên bị cáo N để dưới nệm để ai muốn sử dụng thì sử dụng, khoảng 10 phút sau thì bị cáo N tiếp tục lấy dĩa ma túy khây đưa cho bị cáo N1 sử dụng.

Đến khoảng 03 giờ ngày 30/10/2023, bị cáo N lấy 02 (hai) viên ma túy thuốc lắc bỏ vào ốp lưng điện thoại của mình rồi cùng với T và N1 đi ăn bánh canh rồi về nhà của bị cáo T tại khóm A, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Tại đây, bị cáo N1 nói đang lên kẹo (tức là đang phê ma túy loại MDMA) và buồn quá, nghe vậy bị cáo T hỏi N và N1 có sử dụng ma túy khây nữa hay không thì N và N1 nói không có tiền, bị cáo T nói với bị cáo N1 mua ma túy thiếu đi, hai ba ngày nữa bị cáo T sẽ đưa tiền cho N1 trả sau. Nghe vậy, bị cáo N1 điện thoại cho người tên T2 (không rõ họ tên, địa chỉ) qua số điện thoại 0783.930.xxx để hỏi mua thiếu 01 (một) bịch ma túy khây, T2 đồng ý và hẹn bị cáo N1 đến trước trường mầm non H4 thuộc Phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh để nhận ma túy và cho bị cáo N1 số điện thoại 0326.966.xxx của người giao ma túy để N1 liên hệ nhận ma túy. Sau đó, bị cáo N1 dùng xe mô tô Classico, màu vàng đen, biển số 84D1-211.70 đi lấy ma túy, đi được một lúc do không biết đường nên bị cáo N1 quay về nhà của T, lúc này do điện thoại gần hết pin nên N1 đưa số điện thoại của người giao ma túy cho bị cáo N để liên lạc và hẹn giao ma túy tại khu vực cầu tạm thuộc Phường D, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Sau đó, bị cáo T dùng xe mô tô Classico, màu vàng đen, biển số 84D1-211.70 chở N và N1 đến khu vực cầu tạm để nhận ma túy, khi đến nơi T và N đứng đợi trong hẻm còn bị cáo N1 thì chạy xe ra cầu tạm để nhận ma túy. Khi nhận được bịch ma túy khây, bị cáo N1 quay trở lại đón T và N, đồng thời đưa bịch ma túy khây cho bị cáo N cất giữ. Sau đó cả ba bàn bạc, thống nhất đến nhà bị cáo P để mượn đèn laze về nhà T để sử dụng. Bị cáo T điều khiển xe chở bị cáo N cầm bịch ma túy khây trên tay và bị cáo N1 đến nhà bị cáo P. Lúc này, tại nhà của P thì C1 và bạn của C1 đã về chỉ còn bị cáo P, Ý thì cả ba người thống nhất ở lại nhà của bị cáo P để rủ bị cáo P và Ý cùng sử dụng ma túy. Khi vào phòng lớn, bị cáo T nói cho bị cáo P biết là có mang ma túy đến để sử dụng cùng với bị cáo P. Sau đó, T hỏi bị cáo N1 bịch ma túy đâu thì bị cáo N1 nói là đã đưa cho N, lúc này bị cáo N mới ném bịch ma túy khây xuống nệm, T lấy và đổ ma túy khây vào dĩa rồi dùng, thẻ nhựa (dụng cụ sử dụng ma túy vào đêm ngày 29/10/2023) để nấu, xào ma túy khây, làm xong bị cáo T kẻ thành đường rồi dùng ống hút được cuộn bằng tờ tiền Việt Nam 10.000 đồng đã sử dụng ma túy vào đêm ngày 29/10/2023 để sử dụng. Sau khi bị cáo T sử dụng ma túy xong thì bị cáo N và bị cáo N1 cũng sử dụng, lúc này bị cáo N có lấy hai viên ma túy thuốc lắc từ ốp lưng điện thoại của mình ra để ai muốn sử dụng thì sử dụng. Sau đó bị cáo T, N, N1 có kêu bị cáo P và Ý dậy để sử dụng ma túy cùng, một lúc sau thì bị cáo P, Ý có ngồi dậy sử dụng ma túy của bị cáo T, bị cáo N và bị cáo N1.

Đến 09 giờ 50 phút ngày 30/10/2023 thấy có Công an đến kiểm tra, bị cáo T mới lấy dĩa ma túy khây úp xuống nền để không bị phát hiện. Qua kiểm tra tại phòng ngủ lớn tại vị trí khoảng giữa phòng, trên nền gỗ lực lượng Công an thu giữ:

01 (một) cái dĩa màu trắng, viền màu xanh, hình tròn, kích thước 22 cm x 02 cm trên dĩa có chất (nghi là chất ma túy) được niêm phong trong một túi niêm phong ký hiệu PS2, mã số 1901433, bên ngoài có chữ ký của điều tra viên Trần Văn T3, chữ ký của Võ Thành C2, chữ ký Văn Phong D Trưởng Công an phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, chữ ký của Thạch P, chữ ký Nguyễn Kim Sơn T, chữ ký Nguyễn Như Ý, chữ ký Nguyễn Thị Hồng N1, chữ ký Lâm Thanh N cùng dấu mộc tròn màu đỏ của Công an phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

01 (một) bịch nylon trong suốt dạng vuốt khóa miệng có viền màu đỏ bên trong có chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma túy) được niêm phong trong một túi niêm phong ký hiệu PS3 mã số 1904068 bên ngoài có chữ ký của điều tra viên Trần Văn T3, chữ ký của Võ Thành C2, chữ ký Văn Phong D Trưởng Công an phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, chữ ký của Thạch P, chữ ký Nguyễn Kim Sơn T, chữ ký Nguyễn Như Ý, chữ ký Nguyễn Thị Hồng N1, chữ ký Lâm Thanh N cùng dấu mộc tròn màu đỏ của Công an phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

01 (một) bịch nylon màu đen, dạng vuốt khóa miệng, kích thước 04 cm x 03 cm, bên trong có chứa 02 (hai) viên nén màu xám không rõ hình dạng (nghi là chất ma túy) được niêm phong trong một túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số 1904067 bên ngoài có chữ ký của điều tra viên Trần Văn T3, chữ ký của Võ Thành C2, chữ ký Văn Phong D Trưởng Công an phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, chữ ký của Thạch P, chữ ký Nguyễn Kim Sơn T, chữ ký Nguyễn Như Ý, chữ ký Nguyễn Thị Hồng N1, chữ ký Lâm Thanh N cùng dấu mộc tròn màu đỏ của Công an phường E thành phố T tỉnh Trà Vinh.

01 (một) cái dĩa tráng men hình tròn nhiều màu sắc, kích thước 21 cm x 3,5 cm trên dĩa có chất (nghi là chất ma túy) được niêm phong trong một túi niêm phong ký hiệu PS2, mã số 1901434, bên ngoài có chữ ký của điều tra viên Trần Văn T3, chữ ký của Võ Thành C2, chữ ký Văn Phong D Trưởng Công an phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh, chữ ký của Thạch P cùng dấu mộc tròn màu đỏ của Công an phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

Đồng thời lực lượng công an còn phát hiện tạm giữ nhiều tài liệu và đồ vật, dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra chất ma túy trong cơ thể người đối với bị cáo P, bị cáo N1, bị cáo T, bị cáo N và Ý kết quả bị cáo P, bị cáo N1 dương tính với ma túy loại Ketamine và MDMA, còn bị cáo T, bị cáo N và Ý dương tính với ma túy loại Ketamine.

Ngày 30/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiến hành trưng cầu giám định chất ma túy tại phòng K Công an tỉnh T. Ngày 03/11/2023, Phòng K Công an tỉnh T ra Bản kết luận giám định số 810/KL-KTHS, kết luận:

- Gói 01: Tinh bột màu trắng chứa trong 01 (một) bịch nylon trong suốt được niêm phong ký hiệu PS3 mã số PS3 1904068 gửi giám định là ma túy; loại: Ketamine; Tổng khối lượng: 0,4254 gam.

- Gói 02: Tinh bột màu trắng chứa trên 01 (một) cái dĩa màu trắng được niêm phong ký hiệu PS2 mã số PS2 1901433 gửi giám định là ma túy; loại: Ketamine; Tổng khối lượng: 0,0116 gam.

- Gói 03: 02 (hai) viên nén màu xám chứa trong 01 (một) bịch nylon màu đen được niêm phong ký hiệu PS3 mã số PS3 1904067 gửi giám định là ma túy; loại: MDMA; tổng khối lượng: 0,7011 gam.

- Gói 04: Tinh bột màu trắng trên 01 (một) cái dĩa tráng men được niêm phong ký hiệu PS2 mã số PS2 1901434 gửi giám định là ma túy; loại: Ketamine; Tổng khối lượng: 0,0217 gam.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2024/HSST ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Thạch P phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Thạch P 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2023.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với các bị cáo bị cáo Nguyễn Kim Sơn T, Lâm Thanh N, Nguyễn Thị Hồng N1 về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/9/2024, bị cáo Thạch P kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Thạch P thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quyết định, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, lời trình bày của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Thạch P về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Mức hình phạt bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo 10 năm tù là đã đánh giá đúng tính chất vụ án và áp dụng đầy đủ các tình tiết nhẹ cho bị cáo và hình phạt trên cũng đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa đối với tội phạm liên quan đến ma túy hiện nay, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Thạch P, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

Lời nói sau cùng của bị cáo Thạch P: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo là còn trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Thạch P Hội đồng xét xử xét thấy: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Thạch P khai nhận bị cáo là người điện thoại mua ma túy và dùng căn nhà số H thuộc khóm D, phường E, thành phố T, tỉnh Trà Vinh bị cáo thuê cho mọi người sử dụng ma túy, bị cáo là người đồng ý cung cấp dĩa để đựng ma túy sử dụng và trong đó có bị cáo Nguyễn Thị Hồng N1 là người dưới 18 tuổi, trong ngày 28/10/2023 bị cáo đã tổ chức nhiều lần để sử dụng ma túy, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Thạch P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm a ,b ,c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là phù hợp với hành vi của bị cáo và phù hợp quy định của pháp luật.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rất rõ việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật và là chất gây nghiện rất độc hại, nó không chỉ làm ảnh hưởng đến sức khỏe, khả năng tham gia lao động, học tập, mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về trí tuệ của người sử dụng, mà nó còn làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác nhưng vẫn tổ chức cho nhiều người sử dụng, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Để đáp ứng cho yêu cầu đấu tranh, phòng ngừa các loại tội phạm về ma túy trong đó có tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” gia tăng phức tạp hiện nay trên địa bàn tỉnh Trà Vinh và để tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian cải tạo trở thành người tốt. Xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Thạch P 10 (mười) năm tù là phù hợp với tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo và phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa phương. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ đặc biệt mới quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Thạch P. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

[4] Đề nghị của Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm là phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Thạch P không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Thạch P.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2024/HSST ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

Tuyên bố bị cáo Thạch P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Thạch P 10 (mười) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/10/2023.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Thạch P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND thành phố Trà Vinh;
  • - VKSND thành phố Trà Vinh;
  • - CA thành phố Trà Vinh;
  • - Chi cục THADS thành phố Trà Vinh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-PT ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về vụ án hình sự phúc thẩm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 68/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger