|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2024/HS-ST Ngày: 03/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI
TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Phường.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ánh và ông Nguyễn Thanh Minh Hiền.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Jét - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 03/12/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 69/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 68/2024/QĐXXST-HS ngày 14/11/2024, đối với bị cáo:
Huỳnh Chí H, sinh năm: 1997 tại Đồng Tháp; Đăng ký HKTT: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 12/12; Cha tên: Huỳnh Văn X, sinh năm: 1974; Mẹ tên: Lương Thị Thu E, sinh năm: 1972; Vợ và con: Không; Tiền sự: Không; Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án, ngày 08/6/2020 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm tù về tội “Đánh bạc”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/9/2023; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Bắt tạm giam ngày 12/8/2024, đến ngày 23/9/2024 thay thế bằng biện pháp cho bảo lĩnh; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Mai Xuân H1, sinh năm 1996;
Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Anh Phạm Văn H2, sinh năm 1997;
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Anh Huỳnh Văn D1, sinh năm 1988;
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Bà Lương Thị Thu E, sinh năm 1972;
Bà Trịnh Thị D2, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Anh Nguyễn Trung H3, sinh năm 2001;
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
Anh Lê Văn L, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Anh Trần Quốc Q, sinh năm 1998;
Anh Ngô Văn Ngọc S, sinh năm 1997;
Anh Võ Tuấn A, sinh năm 1988;
Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Chị Huỳnh Thị Thúy H4, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Anh Phan Văn T, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Anh Nguyễn Hữu K, sinh năm 1999;
Địa chỉ: Ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
(Bị cáo, anh Xuân H1, bà D, anh H2, anh D1, bà D2 và anh Tuấn A có mặt; Bà Thu E, anh Trung H3, anh L, anh Q, anh S, chị H4, anh T và anh K vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo có 01 tiền án về tội “Đánh bạc”, ngày 08/6/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm tù về tội “Đánh bạc”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/9/2023. Khoảng hơn 10 giờ ngày 21/5/2024, tại căn chòi dựng tạm của anh D1 sử dụng để bán nước uống và thịt dê ở ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, anh H2 rủ anh Mai Xuân H1, anh Nguyễn Trung H3 và bị cáo đánh bài ăn thua bằng tiền thì cả nhóm đồng ý. Anh H2 lấy 01 bộ bài tây loại 52 lá có sẵn của anh Xuân H1 mua trước đó ra chơi. Khi đánh bạc, vị trí ngồi của từng người như sau: bên tay trái của bị cáo là anh Xuân H1, bên phải là anh H2, đối diện là anh Trung H3. Hình thức là chơi bài binh xập xám, làm cái xoay vòng, mỗi ván bài chia mỗi người chơi 13 lá. Quy định khi so bài, người có bài lớn nhất và nhì sẽ thắng hai người còn lại mỗi người 50.000 đồng. Xòng bạc diễn ra liên tục đến 11 giờ 45 phút cùng ngày, thì bị lực lượng Công an xã T phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc gồm: 1.650.000 đồng, 01 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 cái bàn bằng gỗ, 05 cái ghế nhựa màu đỏ mà bị cáo và các đối tượng sử dụng để đánh bạc cùng nhiều tang vật có liên quan. Trong quá trình sòng bài diễn ra, tại quán của anh D1 còn có anh L, anh Q, anh Tuấn A, anh S, anh K nhưng không tham gia đánh bạc.
Quá trình điều tra bị cáo và các đối tượng khai nhận:
Bị cáo:
Lúc đến quán của anh D1 mang theo trong người 21.876.000 đồng. Sử dụng 750.000 đồng đánh bạc (Trong đó, để trên chiếu bạc 450.000 đồng). Lúc bị bắt quả tang thắng được 100.000 đồng, bị thu giữ trên chiếu bạc 550.000 đồng, bị thu giữ trong túi quần 21.426.000 đồng (Trong đó, có 300.000 đồng sử dụng để đánh bạc, còn lại 21.126.000 đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc).
Anh Mai Xuân H1:
Lúc đến quán của anh D1 mang theo trong người 36.805.000 đồng. Sử dụng 300.000 đồng để đánh bạc. Lúc bị bắt quả tang đã thắng 100.000 đồng bị thu giữ trên chiếu bạc, bị thu giữ trong túi quần 36.805.000 đồng (Trong đó, có 300.000 đồng sử dụng đánh bạc, còn lại 36.505.000 đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc).
Anh Nguyễn Trung H3:
Lúc đến quán của anh D1 mang theo trong người 6.734.000 đồng, trong đó sử dụng 1.200.000 đồng để đánh bạc. Lúc bị bắt quả tang đã thua 600.000 đồng, còn 600.000 đồng bị thu giữ trên chiếu bạc, bị thu giữ trong túi quần 5.534.000 đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc.
Anh Phạm Văn H2:
Lúc đến quán của anh D1 mang theo trong người 1.020.000 đồng, trong đó sử dụng 400.000 đồng đánh bạc. Lúc bị bắt quả tang, đã thắng 400.000 đồng bị thu giữ trên chiếu bạc, bị thu giữ trong túi quần 1.020.000 đồng (Trong đó, 400.000 đồng sử dụng đánh bạc, còn lại 620.000 đồng không sử dụng vào mục đích đánh bạc).
Như vậy, tổng số tiền bị cáo cùng anh H2, anh Xuân H1 và anh Trung H3 sử dụng vào mục đích đánh bạc là 2.650.000 đồng (Gồm: 1.650.000 đồng thu trên chiếu bạc và 1.000.000 đồng thu trên người của bị cáo, anh Xuân H1, anh Trung H3, anh H2).
Tại Cáo trạng số 65/CT-VKSTM ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười đã truy tố bị cáo H về tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo với mức án từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù.
- - Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự đề nghị phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- - Về xử lý vật chứng đề nghị tuyên như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Ý kiến của anh Mai Xuân H1:
Ngày 21/5/2024, tại căn chòi dựng tạm của anh D1 thì anh có tham gia chơi bài binh xập xám cùng với bị cáo, anh H2 và anh Trung H3. Khi chơi thỏa thuận làm cái xoay vòng, mỗi ván bài chia mỗi người chơi 13 lá. Quy định khi so bài, người có bài lớn nhất và nhì sẽ thắng hai người còn lại mỗi người 50.000 đồng. Khi đang chơi thì bị Công an ập vào bắt quả tang. Đối với vụ án này anh chỉ yêu cầu được nhận lại số tiền của mình đang bị thu giữ. Ngoài ra, anh không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
Ý kiến của bà Nguyễn Thị D:
Bà là mẹ ruột của anh Xuân H1, bà nhớ hôm đó bà có nhờ anh Xuân H1 đi đến gặp bà D2 để lấy giúp bà số tiền 36.000.000 đồng mà bà D2 còn nợ tiền tạp hóa. Bà không hề biết anh Xuân H1 tham gia đánh bạc đến khi Công an thông báo thì bà mới biết. Đối với vụ án này thì bà không có yêu cầu gì. Ngoài ra, bà không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
Ý kiến của anh Phạm Văn H2:
Ngày 21/5/2024, tại căn chòi dựng tạm của anh D1 thì anh có tham gia chơi bài binh xập xám cùng với bị cáo, anh Xuân H1 và anh Trung H3. Khi chơi thỏa thuận làm cái xoay vòng, mỗi ván bài chia mỗi người chơi 13 lá. Quy định khi so bài, người có bài lớn nhất và nhì sẽ thắng hai người còn lại mỗi người 50.000 đồng. Khi đang chơi thì bị Công an ập vào bắt quả tang. Đối với vụ án này anh chỉ yêu cầu được nhận lại các tài sản của mình đang bị thu giữ. Ngoài ra, anh không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
Ý kiến của anh Huỳnh Văn D1:
Ngày 21/5/2024, tại căn chòi dựng tạm của anh thì anh có thấy bị cáo, anh H2, anh Xuân H1 và anh Trung H3 chơi đánh bạc, còn đánh bạc gì thì anh không rõ. Các anh này tự chơi đánh bạc với nhau chứ anh không có tổ chức việc đánh bạc này và anh cũng không hề được hưởng lợi gì từ việc đánh bạc trên. Anh xác định ngày hôm đó anh không có tham gia chơi đánh bạc. Đối với vụ án này anh không có yêu cầu gì. Ngoài ra, anh không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
Ý kiến của bà Trịnh Thị D2:
Bà là mẹ vợ của anh Xuân H1, bà nhớ hôm đó bà có đưa cho anh Xuân H1 số tiền 36.000.000 đồng để đem về đưa lại cho bà D, đây là số tiền bà trả cho bà D. Bà không hề biết anh Xuân H1 tham gia đánh bạc đến khi Công an thông báo thì bà mới biết. Đối với vụ án này thì bà không có yêu cầu gì. Ngoài ra, bà không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.
Đối với bà Thu E, anh Trung H3, anh L, anh Q, anh S, chị H4, anh T và anh K mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng những người này vắng mặt không có lý do. Đồng thời, những người này cũng không có gửi cho Tòa án văn bản ý kiến gì nên tại giai đoạn xét xử sơ thẩm không ghi nhận ý kiến của những người này.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 65/CT-VKSTM ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là đúng với hành vi của bị cáo. Bị cáo có 01 tiền án về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích thì tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức chơi đánh bài binh xập xám thắng thua bằng tiền cùng anh Phạm Văn H2, anh Mai Xuân H1 và anh Nguyễn Trung H3, với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 2.650.000 đồng, vào ngày 21/5/2024, tại ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
[3] Đối với bị cáo tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức bài binh xập xám, với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 2.650.000 đồng nên thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
[4] Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng, biên bản làm việc và các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
[5] Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
[6] Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi của mình. Bản thân bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử về tội “Đánh bạc” nên bị cáo biết rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhưng vì xem thường pháp luật, vì tư lợi bản thân, lười biếng lao động muốn sát phạt nhau để kiếm tiền một cách nhanh chóng mà không phải tốn công sức nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi đánh bạc như bản cáo trạng đã nêu. Trong vụ án này, bị cáo đã thực hiện hoàn thành tội phạm. Thời gian gần đây, tệ nạn đánh bạc đang phát triển mạnh dưới nhiều hình thức khác nhau trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp nói chung, huyện T nói riêng, tệ nạn đánh bạc phát triển làm cho nhiều gia đình có người thân tham gia đánh bạc lâm vào hoàn cảnh khó khăn, tan nát, hơn nữa cũng từ tệ nạn này làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội ảnh hưởng tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, việc Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười đưa vụ án ra xét xử hôm nay là cần thiết, cần áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo, trở thành người tốt, có ích cho gia đình và cho xã hội sau này, đồng thời đấu tranh phòng ngừa chung.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Đối với bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- - Ngoài các tình tiết mà Hội đồng xét xử đã xem xét trên thì bị cáo xác định tính đến nay thì bị cáo không còn tình tiết giảm nhẹ nào khác.
[9] Về hình phạt bổ sung: Xét đối với hành vi đánh bạc của bị cáo cần phạt bổ sung một khoản tiền nhất định để nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
[10] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng và 14 bộ bài tây loại 52 lá chưa qua sử dụng; 01 cái bàn bằng gỗ, 05 cái ghế nhựa màu đỏ do không còn giá trị sử dụng. Đây là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với số tiền 2.650.000 đồng. Đây là số tiền dùng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - Đối với số tiền 21.126.000 đồng của bị cáo, số tiền 36.505.000 đồng của anh Mai Xuân H1, số tiền 5.534.000 đồng của anh Nguyễn Trung H3, số tiền 620.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh bị vỡ màn hình của anh Phạm Văn H2. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo, anh Xuân H1, anh Trung H3 và anh H2 không có liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo, anh Xuân H1, anh Trung H3 và anh H2.
[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[12] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là có căn cứ nên chấp nhận.
[13] Đối với anh Xuân H1, anh Trung H3 và anh H2 tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền vào ngày 21/5/2024 với tổng số tiền dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, chưa đủ định lượng cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Đồng thời, những người này chưa có tiền sự, tiền án về hành vi “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc”, “Gá bạc” nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chuyển cơ quan có thẩm quyền để xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc theo quy định là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
[14] Đối với anh Huỳnh Văn D1 có hành vi sử dụng căn chòi của mình cho bị cáo và các đối tượng tụ tập đánh bạc, với số tiền dùng để đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, anh D1 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc” hoặc “Gá bạc” ăn không phạm tội và Công an huyện T đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- 1/ Tuyên bố bị cáo Huỳnh Chí H phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Chí H 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giam từ ngày 12/8/2024 đến ngày 23/9/2024.
- 2/ Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo H với số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
- 3/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây loại 52 lá đã qua sử dụng và 14 bộ bài tây loại 52 lá chưa qua sử dụng; 01 cái bàn bằng gỗ, 05 cái ghế nhựa màu đỏ.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 2.650.000 đồng (Hai triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
- - Trả lại cho bị cáo H số tiền 21.126.000 (Hai mươi mốt triệu, một trăm hai mươi sáu nghìn đồng).
- - Trả lại cho anh Mai Xuân H1 số tiền 36.505.000 đồng (Ba mươi sáu triệu, năm trăm lẻ năm nghìn đồng).
- - Trả lại cho anh Nguyễn Trung H3 số tiền 5.534.000 đồng (Năm triệu, năm trăm ba mươi bốn nghìn đồng).
- - Trả lại cho anh Phạm Văn H2 số tiền 620.000 đồng (Sáu trăm hai mươi nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu xanh bị vỡ màn hình.
- (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười đang quản lý vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/10/2024).
- 4/ Về án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 21 và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- 5/ Bị cáo, anh Xuân H1, bà D, anh H2, anh D1 và bà D2 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bà Thu E và anh Trung H3 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
- 6/ Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Phường |
|
Hội thẩm nhân dân Nguyễn Văn Ánh - Nguyễn Thanh Minh Hiền |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Phường |
Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP về đánh bạc (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 68/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử
