Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN Ô MÔN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19-11-2024.

V/v: Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Hồng Nương.

Các Hội thẩm nhân dân.

  • 1. Bà Ngô Thị Út Hậu
  • 2. Ông Ngô Minh Thi

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 150/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

Bị đơn: Bà Phan Thị K, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 30/9/2024, trình bày của nguyên đơn, bị đơn vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyên ông Lê Văn T và bà Phan Thị K được gia đình hai bên mai mối tự nguyện chung sống như vợ chồng từ khoảng năm 1992, có tổ chức đám cưới, nhưng không có đăng ký kết hôn.

Quá trình chung sống ông bà có 02 con chung tên Lê Minh C, sinh ngày: 25/12/1993 (nam), Lê Hồng H, sinh ngày: 02/02/1998 (nữ).

Thời gian đầu vợ chồng ông T sống rất hạnh phúc, nhưng đến đầu năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, ông bà thường bất hòa về tình cảm do không có tiếng nói chung dẫn đến mất hạnh phúc, sau đó có dành thời gian hàn gắn hạnh phúc nhưng không kết quả. Ông T và bà K đã ly thân từ năm 2022.

Xét thấy cuộc hôn nhân không đạt, kéo dài không có hạnh Phúc nên ông T xin không công nhận quan hệ vợ chồng với bà K.

Về con chung: Lê Minh C, sinh ngày: 25/12/1993 (nam), Lê Hồng H, sinh ngày: 02/02/1998 (nữ) đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án đặt ra xét xét, giải quyết.

Về tài chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Phan Thị K trình bày: Bà K thống nhất với T về quá trình hôn nhân và nguyên nhân mâu thuẫn. Từ đầu năm 2022, vợ chồng bà thường bất hòa về tình cảm do không có tiếng nói chung dẫn đến mất hạnh phúc. Mặc dù có dành thời gian hàn gắn nhưng không có kết quả. Vì vậy bà K thống nhất không công nhận quan hệ vợ chồng với ông T.

Về con chung: Lê Minh C, sinh ngày: 25/12/1993 (nam), Lê Hồng H, sinh ngày: 02/02/1998 (nữ) đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án đặt ra xét xét, giải quyết.

Về tài chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn đề nghị tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn ông Lê Văn T yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với bị đơn bà Phan Thị K . Bị đơn cư trú tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Đây là vụ án “Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 8 Điều 28, Điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà K cho rằng vào khoảng năm 1992, ông bà tự nguyện tổ chức lễ cưới, chung sống với nhau coi nhau như vợ chồng và có 02 con chung nhưng ông bà không đăng ký kết hôn kết hôn theo quy định pháp luật. Pháp luật quy định trường hợp của các đương sự sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn thì quan hệ hôn nhân sẽ được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn. Ông T và bà K biết về quy định này nhưng đến nay ông bà vẫn không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng đối với nhau. Nay ông bà đều cho rằng cuộc sống chung như vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung và đã không còn chung sống từ năm 2022 đến nay, tình cảm vợ chồng không còn. Do đó, ông bà yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng là có căn cứ nên được chấp nhận theo quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân & Gia đình.

[3] Xét về con chung: Ông T và bà Kiều tự xác định ông bà có 02 người con chung, họ và tên là Lê Minh C, sinh ngày: 25/12/1993 (nam), Lê Hồng H, sinh ngày: 02/02/1998 (nữ). Các đương sự đều xác định thống nhất Lê Minh C và Lê Hồng H đã trưởng thành nên không đặt ra xem xét, giải quyết. [4] Về tài sản chung và nợ chung: các đương sự xác định tự thỏa thuận về tài sản chung, không có nợ chung, nếu có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết bằng vụ án khác. Do đó, về tài sản chung, nợ chung tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu và theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định.

[5] Về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí vụ án hôn nhân sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Các Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
  • - Khoản 8 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Lê Văn T và bà Phan Thị K .
  2. Về con chung: 02 con chung họ và tên là Lê Minh C, sinh ngày: 25/12/1993 (nam) và Lê Hồng H, sinh ngày: 02/02/1998 (nữ), đã trưởng thành, không đặt ra xem xét, giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi các bên đương sự có yêu cầu và theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định.
  4. Về án phí: Ông Lê Văn T phải chịu án phí vụ án hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002030 ngày 04/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Ông Lê Văn T đã nộp xong án phí.

Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Chi cục THADS Q. Ô Môn;
  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - UBND Phường Thới An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • - VKSND Q. Ô Môn;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Hồng Nương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger