Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NAM TRỰC

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:68/2024/HS-ST

Ngày: 12-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Mạnh Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hùng

Ông Lưu Xuân Tiến

- Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Minh Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Là – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định mở phiên toà sơ thẩm công khai xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 64/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 69/2024/ QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với:

Bị cáo: Vũ Huy D; Sinh ngày 29/9/1995; Giới tính: Nam; Nơi sinh, nơi cư trú: Xóm A C, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định. Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Vũ Huy M; Sinh năm 1973; Con bà: Mai Thị H; Sinh năm 1976. Có vợ là Tống Thị Q, sinh năm: 1995. Bị cáo có ba con, con lớn nhất, sinh năm 2018; con nhỏ nhất, sinh năm 2024.

Tiền sự: Không

Tiền án: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/9/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Lã Quang N (đã chết);

Địa chỉ: Xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1960;
  2. Chị Lã Thị Thùy H1, sinh năm 1989;
  3. Chị Lã Thanh H2, sinh năm 1992;

Địa chỉ: Xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

Địa chỉ: Tổ dân phố số A, N, M, N, Hà Nội.

Địa chỉ: Tổ dân phố số A, N, M, N, Hà Nội.

Người đại diện theo uỷ quyền của chị Lã Thị Thùy H1, chị Lã Thanh H2: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1960. Địa chỉ: Xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

(Tại phiên tòa, bà O vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 01 giờ 29 phút ngày 29/7/2024, bị cáo có giấy phép lái xe ô tô hạng B2, điều khiển xe ô tô biển số 18A-351.16, nhãn hiệu TOYOTA, số loại VELOZ CROSS, màu sơn đen theo hướng từ huyện T đi thành phố N. Khi đi đến K, Quốc lộ B, thuộc địa phận thôn T, xã Đ (nay là xã N), huyện N, tỉnh Nam Định do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi điều khiển xe trong điều kiện thời tiết trời mưa dẫn đến phần bảng biển số và ba đờ sốc phía trước xe ô tô do bị cáo điều khiển đã xô vào phía sau của xe đạp do ông Lã Quang N đang dắt xe đạp đi bộ cùng chiều phía trước. Hậu quả ông Lã Quang N bị chấn thương sọ não, chết trên đường đi cấp cứu.

Sau khi xảy ra vụ tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Phòng C Công an tỉnh N, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, tạm giữ vật chứng gồm: 01 xe đạp loại xe nam, màu sơn xám, 02 chiếc giày màu đen, 01 đèn pin, 01 áo mưa và túi đựng áo mưa màu xanh của ông Lã Quang N; 01 xe ô tô biển số 18A-351.16, 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 17/6/2020, có giá trị đến ngày 17/6/2030, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 18A-351.16 của bị cáo. Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N còn thu giữ 02 đoạn video trích xuất từ camera giám sát của nhà anh Đỗ Duy H3, sinh năm 1976, trú tại thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, niêm phong trong phong bì thư, ký hiệu A1, A2.

* Khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn giao thông là đoạn KM 156, Quốc lộ B, thuộc địa phận thôn T, xã Đ (nay là xã N), huyện N, tỉnh Nam Định; đường thẳng; mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, mặt đường bị ướt do trời mưa; lòng đường rộng 11m, có vạch kẻ đứt đoạn màu vàng ở giữa đường chia hai chiều đường xe chạy; tiếp giáp hai mép đường là mặt cống thoát nước rộng 01m, tiếp đến là lề đường và nhà dân. Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Chọn mép đường bên phải theo hướng T đi thành phố N làm mép đường chuẩn; Chọn điểm mốc là cột mốc Km 156, Quốc lộ B, ở lề đường bên phải theo hướng thành phố N đi T. Chân cột mốc cách mép đường chuẩn là 12.7m; Phương hướng khám nghiệm hiện trường: Khám nghiệm hiện trường theo hướng T đi thành phố N. Số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, dấu vết, tang vật: (1) 01 chiếc giầy chân phải màu đen, đế màu trắng, kích thước 0.3 x 0.1 (m), phần đế giầy hướng lên trên, nằm trên mặt đường, phần mũi giầy hướng mép đường bên trái theo hướng T đi thành phố N, gót giầy hướng mép đường bên phải theo hướng T đi thành phố N, tâm giầy cách mép đường chuẩn 3.2m, cách điểm mốc 18.1m; (2) 01 chiếc giầy chân trái màu đen, đế màu trắng, kích thước 0.3 x 0.1 (m), phần đế giầy hướng lên trên, nằm trên mặt đường, phần mũi giầy hướng mép đường bên trái theo hướng T đi thành phố N, gót giầy hướng mép đường bên phải theo hướng T đi thành phố N, tâm giầy cách mép đường chuẩn 5.3m, cách tâm chiếc giầy (1) là 2.3m; (3) Đèn pin kích thước 0.08 x 0.05 (m), nằm trên mặt đường, tâm đèn pin cách tâm giầy (2) là 7.2m, cách mép đường chuẩn 0.7m; (4) Áo mưa và túi đựng áo mưa, màu xanh, kích thước 0.5 x 0.2 (m), nằm trên mặt đường, tâm vùng áo mưa và túi đựng áo mưa cách tâm đèn pin 12m, cách mép đường chuẩn 2.7m; (5) Xe đạp, loại xe nam, màu sơn đen, nằm đổ nghiêng trái trên mặt đường, đầu xe hướng thành phố N chếch mép đường chuẩn, đuôi xe hướng Trực Ninh chếch mép đường bên trái theo hướng T đi thành phố N, trục bánh sau cách tâm vùng áo mưa và túi đựng áo mưa (4) là 13.8m, cách mép đường chuẩn 0.55m, trục trước cách mép đường chuẩn 0.25m; (6) Xe ô tô biển số 18A-351.16 đỗ trên mặt đường, đầu xe hướng thành phố N, đuôi xe hướng T, trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn 0.9m, cách trục trước xe đạp 10.1m, trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn 0.8m.

* Kết quả khám nghiệm tử thi: Tại Bản kết luận giám định tử thi số 1379/KLGĐTT-KTHS, ngày 13/8/2024, của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Nạn nhân Lã Quang N chết do chấn thương, vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ.

* Khám nghiệm phương tiện xe ô tô biển số 18A-351.16: Xe ô tô biển số 18A-351.16, nhãn hiệu TOYOTA, số loại VELOZ CROSS, màu sơn đen có các dấu vết: Phần nhựa bảo vệ bảng biển số bị nứt vỡ trên diện (20 x 15) cm, bị đẩy từ trước về sau so với bình thường 1,5 cm; tâm vùng cách thành xe bên phải 92 cm, cách mặt đất 50 cm. Ba đờ sốc phía trước bên phải có vùng trượt xước lõm nhựa kích thước (20 x 6) cm, đẩy từ trước về sau so với bình thường 0,3 cm; tâm vùng cách thành xe bên phải 45 cm, cách mặt đất 50 cm. Mặt trước nắp capo bị móp méo biến dạng không rõ hình, kích thước (40 x 15) cm; tâm vùng cách thành xe bên phải 75 cm; bị đẩy từ trước về sau so với bình thường 3 cm. Mặt trên nắp capo bị móp méo biến dạng không rõ hình, kích thước (90 x 65) cm; tâm vùng cách thành xe bên phải 75 cm; bị đẩy từ trên xuống dưới sau so với bình thường 4 cm.

* Khám nghiệm phương tiện xe đạp: Xe đạp loại xe nam, màu xám có các dấu vết: Bánh xe, vành bánh xe và đũa xe bánh sau bị móp méo, biến dạng không rõ hình, bị đẩy từ phải sang trái so với bình thường 10 cm, bị đẩy từ sau về trước so với bình thường 10 cm, tì sát vào gác ba ga bên trái; tâm vùng cách mặt đất 50 cm. Cung sau chắn bùn bánh xe phía sau bị đẩy từ sau về trước so với bình thường 10 cm, bị đẩy từ phải sang trái so với bình thường 6 cm tì sát vào lốp xe. Đầu ốc của bánh sau bên trái có vùng trượt xước kim loại bám dính chất màu trắng kích thước (0,5 x 0,5) cm. Mặt ngoài bàn đạp bên trái có vùng trượt xước nhựa không rõ hình kích thước (4 x 2) cm. Mặt ngoài tay nắm lái bên trái có vùng trượt xước nhựa không rõ hình kích thước (2 x 0,5) cm. Đầu tay phanh trái có vùng trượt xước nhựa không rõ hình kích thước (1 x 0,5) cm. Đầu ốc trục bánh sau bên phải có vùng trượt xước kim loại bám dính chất màu trắng, kích thước (0,5 x 0,5) cm. Đầu tay nắm lái bên phải có vùng trượt xước nhựa không rõ hình kích thước (1,5 x 1) cm. Cung sau chắn bùn bánh trước bị đẩy từ phải sang trái so với bình thường 2 cm.

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 32/KLĐG, ngày 12/8/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện N kết luận: Giá trị thiệt hại của xe ô tô biển số 18A-351.16, tại thời điểm xảy ra sự việc có giá trị trên thị trường là 1.500.000 đồng. Giá trị thiệt hại của xe đạp tại thời điểm xảy ra sự việc có giá trị trên thị trường là 200.000 đồng.

* Tại Bản kết luận giám định số 1401/KL-KTHS, ngày 25/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A2). Không xác định được tốc độ của xe ô tô biển số 18A-351.16 ngay trước thời điểm xảy ra va chạm trong mẫu gửi giám định (ký hiệu A1). Không xác định được tốc độ của xe ô tô biển số 18A-351.16 ngay trước thời điểm xảy ra va chạm trong mẫu gửi giám định (ký hiệu A2). Không đủ cơ sở xác định điểm, vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 18A-351.16 với ông Lã Quang N đang dắt xe đạp đi bộ trên đường trên phương tiện trong các mẫu gửi giám định (ký hiệu A1, A2). Điểm, vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 18A-351.16 với ông Lã Quang N đang dắt xe đạp đi bộ trên đường nằm ở phần đường bên phải vạch phân chia phần đường theo chiều chuyển động của xe ô tô biển số 18A-351.16 trong các mẫu gửi giám định (ký hiệu A1, A2).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Sau khi tai nạn xảy ra, phòng C Công an tỉnh N đã tiến hành xét nghiệm nồng độ cồn và chất gây nghiện đối với bị cáo. Kết luận định lượng cồn trong máu là 0.000mg/L và âm tính với chất gây nghiện.

Quá trình điều tra xác định: Điểm va chạm đầu tiên giữa ông Lã Quang N, xe đạp với xe ô tô biển số 18A-351.16 là bảng biển số và ba đờ sốc phía trước của xe ô tô biển số 18A-351.16 với bánh xe phía sau của xe đạp và phía sau 02 cẳng chân của ông N; vị trí va chạm trên đường trước vị trí chiếc giầy chân phải trên mặt đường, thuộc phần đường bên phải theo chiều theo hướng T đi thành phố N. Nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông là do lỗi hỗn hợp. Ông Lã Quang N dắt xe đạp đi không đúng phần đường và không đi sát mép đường vi phạm khoản 1 Điều 32 Luật giao thông đường bộ. Bị cáo điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi điều khiển xe trong điều kiện thời tiết trời mưa, vi phạm Điều 12, Luật giao thông đường bộ và Khoản 11, Điều 5, Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/019, của Bộ G.

Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N xác định xe ô tô biển số 18A-351.16, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô và 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 18A-351.16 là tài sản hợp pháp của Vũ Huy D nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại những tài sản trên cho Vũ Huy D.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại 01 xe đạp loại xe nam, màu sơn xám, 02 chiếc giày màu đen, 01 đèn pin và 01 áo mưa, túi đựng áo mưa màu xanh của ông Lã Quang N cho bà Nguyễn Thị O là người đại diện hợp pháp của ông Lã Quang N. Đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu bồi thường về tài sản và tự nguyện khắc phục, sửa chữa.

Đối với 01 đĩa DVD màu trắng được trích xuất từ camera giám sát của nhà anh Đỗ Duy H3, niêm phong trong phong bì thư và 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số [...] mang tên bị cáo là tài liệu kèm theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho người đại diện hợp pháp của người bị hại số tiền 65.000.000 đồng, đại diện hợp pháp của người bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bản Cáo trạng số: 68/CT-VKS ngày 21/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Vũ Huy D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng và đề nghị: Căn cứ điểm a khoản 1 điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 65 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Vũ Huy D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt Vũ Huy D từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Trách nhiệm dân sự không đặt ra. Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số [...] mang tên Vũ Huy D. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà O, chị H1, chị H2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên toà và tại cơ quan điều tra phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 29/7/2024; Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 05/8/2024; Bản kết luận giám định tử thi số 1379/KLGĐTT-KTHS, ngày 13/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, Bản kết luận định giá số 32/KLĐG, ngày 12/8/2024. Từ các chứng cứ trên đã đủ căn cứ kết luận: Khoảng 01 giờ 29 phút ngày 29/7/2024, tại K, Quốc lộ B, thuộc địa phận thôn T, xã Đ (nay là xã N), huyện N, tỉnh Nam Định, bị cáo có giấy phép lái xe ô tô hạng B2, điều khiển xe ô tô biển số 18A-351.16, nhãn hiệu TOYOTA, số loại VELOZ CROSS, màu sơn đen theo hướng từ huyện T đi thành phố N. Do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi điều khiển xe trong điều kiện thời tiết trời mưa dẫn đến phần bảng biển số và ba đờ sốc phía trước xe ô tô do bị cáo điều khiển đã xô vào phía sau của xe đạp do ông Lã Quang N đang dắt xe đạp đi bộ cùng chiều phía trước. Hậu quả ông Lã Quang N bị chấn thương sọ não, chết trên đường đi cấp cứu. Hành vi của bị cáo đã vi phạm Điều 12 Luật Giao thông đường bộ và Khoản 11, Điều 5, Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019của Bộ G. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm an toàn, sự hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, tính mạng của công dân. Bản thân bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện bỏ mặc hậu quả xảy ra. Do đó, hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn. Ngoài ra, trong vụ án này người bị hại cũng có lỗi một phần và đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

[4] Về hình phạt: Qua đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy, bị cáo có nhân thân tốt thể hiện bằng việc bị cáo không có tiền án, tiền sự. Bị cáo nhất thời phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, chỉ cần xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo kèm theo thời gian thử thách là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 54 để quyết định hình phạt cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại. Người đại diện cho bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[6] Đối với Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số [...] mang tên Vũ Huy D. Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.

[7]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà O, chị H1, chị H2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được giao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ: điểm a khoản 1 điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự:

  • - Tuyên bố bị cáo Vũ Huy D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • - Xử phạt Vũ Huy D 09(Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18(Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 12/11/2024).
  • - Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện N, tỉnh Nam Định giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp, bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả cho bị cáo Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số [...] mang tên Vũ Huy D. Hiện Giấy phép lái xe ô tô này đang được lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Bị cáo liên hệ với Văn phòng Tòa án để nhận lại.

3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Bị cáo Vũ Huy D phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà O, chị H1, chị H2 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày giao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh+huyện;
  • - Chi cục THADS huyện Nam Trực;
  • - Công an huyện Nam Trực;
  • - UBND xã Tân Thịnh;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Lưu HS+VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Mạnh Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 68/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Huy D phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger