TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2024/HS-ST
Ngày: 01-11-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HÒ, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Vĩnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Nghĩa.
- Bà Nguyễn Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Trúc Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Hồ Tuấn Huy- Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2024/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Lê Tiến H, sinh ngày 28 tháng 12 năm 1999, tại tỉnh Vĩnh Long.
Nơi cư trú: Số F, tổ C, ấp T, xã H, huyên L, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Tấn H1, sinh năm 1965 và bà Lê Thị Mỹ H2, sinh năm 1968; vợ, con: chưa; anh chị em ruột: có 03 người, lớn nhất sinh 1990, nhỏ nhất là bị cáo; tiền sự: 01 lần, ngày 19/4/2023 bị Công an xã H xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (chưa nộp phạt); tiền án: không.
Nhân thân:
- Ngày 05/7/2018 bị Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Nộp phạt ngày 05/7/2018.
- Ngày 10/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Long Hồ ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng. Chấp hành xong ngày 22/02/2020.
- Ngày 12/5/2022 bị Công an xã H xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Ngày 19/01/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Long Hồ ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng. Chấp hành xong ngày 31/12/2022.
- Ngày 31/7/2024 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Nộp phạt ngày 05/9/2024.
- Ngày 22/7/2024 bị Công an xã H xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nộp phạt ngày 05/9/2024.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày từ ngày 28/7/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Phan Khắc N, sinh năm 1964. Địa chỉ: ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long- vắng mặt không lý do.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Lê Thị Mỹ H2, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số F, tổ C, ấp T, xã H, huyên L, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nảy sinh ý định trộm tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 22 giờ ngày 14/6/2024 bị cáo Phạm Lê Tiến H đi bộ đến nhà bị hại Phan Khắc N tại ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Bị cáo phát hiện xe mô tô mang biển kiểm soát 64K2- 0940 của bị hại để phía sau nhà bị hại. Xe vẫn còn chìa khóa cắm trên xe. Bị cáo lén lút dẫn xe ra ngoài. Bị hại phát hiện truy hô thì bị cáo mở khóa xe, khởi động xe điều khiển chạy đi. Bị cáo điều khiển đi lòng vòng thành phố V. Sau đó bị cáo điều khiển xe về nhà bị cáo. Bị cáo tháo biển số xe ném bỏ, tháo bỏ lớp nhựa ốp xe để tránh phát hiện. Đến khoảng 18 giờ ngày 15/6/2024, bị có điều khiển xe đến khu vực ấp T, xã H thì bị Công an xã H phát hiện kiểm tra, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi trộm xe.
Theo kết luận định giá số 22/KL-HĐĐGTS ngày 10/7/2024 của Hội đồng định gía tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: Xe mô tô kiểm soát 64K2- 0940 có giá trị là 3.500.000 đồng
Ngày 26/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với bị cáo Phạm Lê Tiến H.
Cáo trạng số 65/CT.VKS. LH ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đã truy tố bị cáo Phạm Lê Tiến H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là Bộ luật hình sự).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Lê Tiến H. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Lê Tiến H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Lê Tiến H từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Vật chứng đã xử lý xong, không xét. Bồi thường thiệt hại, đã thỏa thuận giải quyết xong, xong xét. Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
Lời trình bày sau cùng của bị cáo là thừa nhận thực hiện trộm xe mô tô mang biển kiểm soát 64K2- 0940 của bị hại đúng như Cáo trạng số 65/CT.VKS. LH ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Lê Tiến H thừa nhận hành vi trộm cắp xe đúng như Cáo trạng số 65/CT.VKS.HLH ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đã truy tố bị cáo. Hành vi trộm của bị cáo được thực hiện tại ấp P, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Nên Toà án nhân dân huyện Long Hồ thụ lý giải quyết sơ thẩm là đúng theo quy định tại Điều 269 của Bộ luật tố tụng hình sự
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Bị cáo xác định không khiếu nại đối với quá trình tiến hành tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của Điều tra viên, của Kiểm sát viên và lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung hay dùng nhục hình. Do đó, hành vi và chứng cứ, tài liệu của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, qua lời khai của bị cáo đã thể hiện:
Khoảng 22 giờ ngày 14/6/2024 bị cáo Phạm Lê Tiến H đi bộ đến nhà bị hại Phan Khắc N trộm xe mô tô mang biển kiểm soát 64K2- 0940 của bị hại có giá trị là 3.500.000 đồng.
Bị cáo là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi lén lút trộm xe mô tô của bị hại có giá trị 3.500.000 đồng. Đây là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự, về sở hữu tài sản. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tài sản là sự kết tinh giữa trí lực và sức lực tạo ra thông qua lao động hợp pháp, nhằm phục vụ nhu cầu bản thân, góp phần xây dựng gia đình văn hóa, xã hội văn minh. Pháp luật nghiêm cấm và xử lý mọi hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác khi chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu. Bị cáo là người đủ khả năng lao động để nuôi sống bản thân, nhưng lợi dụng sự sơ hở của bị hại, đã cố ý lén lút vào nhà của bị hại để lấy trộm xe của bị hại. Hành vi của bị cáo không những chiếm đoạt tài sản của người khác một cách trái pháp luật, mà còn gây mất trật tự trị an, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư. Nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
2.2. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo; tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại. Nên bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
2.3. Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo không nghề nghiệp, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[3] Về vật chứng:
Một xe mô tô biển số kiểm soát 64K2- 0940 thuộc sở hữu hợp pháp của bị hại. Cơ quan điều tra hoàn trả bị hại là đúng quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[4]. Về bồi thường thiệt hại:
Bị hại đã nhận số tiền bồi thường từ mẹ bị cáo bà Lê Thị Mỹ H2 là 4.500.000 đồng. Bị hại không yêu cầu bồi thêm, nên không xét.
Bà bà Lê Thị Mỹ H2 không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền đã bồi thường thay cho bị cáo là 4.500.000 đồng, nên không xét.
[5]. Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm là đúng pháp luật.
Đối với quan điểm của Kiểm sát viên đã xem xét đến các chứng cứ được đưa ra thẩm tra tại phiên tòa, đã đánh giá đúng hành vi, tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo. Về đề nghị mức hình phạt, đại diện Viện kiểm sát đã xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Lê Tiến H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017:
- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Phạm Lê Tiến H.
- Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại:
- Về vật chứng:
Xử phạt bị cáo Phạm Lê Tiến H 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Phạm Lê Tiến H bị bắt tạm giam là ngày 28/7/2024.
Không xét.
Đã xử lý xong, nên không xét.
- Về án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án:
Buộc bị cáo Phạm Lê Tiến H nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm. Tuyên án có mặt bị cáo bị cáo, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Văn Vĩnh |
Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 01/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 68/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản . tuyên xử 09 tháng tù
