Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HS-ST

Ngày 29 tháng 10 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Hường
  2. Bà Hoàng Thị Thu Hiền

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Trọng Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày 24/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024, đối với:

1. Các bị cáo:

1.1. Lê Thành Đ, sinh ngày 03/11/2001 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn P, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Thanh T và bà Phạm Thị N; vợ: Phan Thị Mỹ U, có 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 12/6/2024 sau đó chuyển tạm giam, có mặt.

1.2. Lê Quang T1, sinh ngày 30/01/2008 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn P, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông ông Lê Xuân H (đã chết) và bà Phan Thị H1; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 27/5/2024 UBND xã L, huyện K ra Quyết định xử phạt vi

phạm hành chính số 19/QĐ-UBND đối với Lê Quang T1 về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/6/2024 sau đó chuyển tạm giam, có mặt.

2. Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lê Quang T1: Bà Phan Thị H1, sinh năm 1966 (mẹ đẻ của bị cáo); nơi cư trú: Thôn P, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình. Có mặt.

3. Người bào chữa:

3.1. Người bào chữa cho bị cáo Lê Thành Đ: Ông Phạm Hữu G – Luật sư thuộc Văn phòng luật sư Phạm Hữu L và cộng sự; địa chỉ: Số C, đường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Có mặt.

3.2. Người bào chữa cho bị cáo Lê Quang T1: Bà Nguyễn Thị H2 – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

4. Bị hại:

4.1. Cháu Trịnh Thị N1, sinh ngày 03/4/2010; nơi cư trú: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật của cháu N1: Bà Bùi Thị T2 (mẹ đẻ của cháu N1), sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Có mặt.

4.2. Cháu Nguyễn Thảo N2, sinh ngày 27/7/2010; nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật của cháu N2: Bà Hoàng Thị T3 (mẹ đẻ của cháu N2), sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Có mặt.

5. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu N1, cháu N2: Bà Đinh Thị Thu T4 – Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

6. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

6.1. Chị Phan Thị Mỹ U (vợ của bị cáo Đ), sinh năm 2004; nơi cư trú: Thôn P, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

6.2. Bà Phạm Thị N, sinh năm 1968 (mẹ bị cáo Đ); nơi cư trú: Thôn P, xã L, huyện K, tỉnh Thái Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 19/5/2024, Lê Quang T1 và cháu Phạm Quang M, sinh ngày 27/01/2009, trú tại thôn V, xã L, huyện K đến quán cắt tóc tại nhà của Lê Thành Đ (anh họ T1) chơi và T1 học nghề cắt tóc tại nhà bị cáo Đ. Tại đây Đ nói với T1 và cháu M: “Chúng mày có đứa nào gọi về đây cho tao chơi cái (nghĩa là để quan hệ tình dục), nay vợ con tao về ngoại không có nhà”. T1 liên hệ qua facebook bảo người yêu là cháu Trịnh Thị N1, sinh ngày 03/4/2010 (đến ngày 20/5/2024 là 14 tuổi 01 tháng 17 ngày) rủ thêm bạn gái đến quán cắt tóc tại nhà của Lê Thành Đ chơi. Cháu N1 đồng ý và rủ cháu Nguyễn Thảo N2, sinh ngày 27/7/2010 (đến ngày 19/5/2024 là 13 tuổi 09 tháng 22 ngày) là bạn học cùng lớp cùng đi. Khoảng 16 giờ cùng ngày, cháu Nguyễn Thảo N2 đi xe đạp điện chở cháu Trịnh Thị N1 đến quán cắt tóc chơi với T1, Đ và cháu M. Khoảng 17 giờ cháu M về nhà nấu cơm, cùng lúc bà Phạm Thị N (mẹ của Đ) cũng đi từ trong nhà ra bảo N1, N2 đi về. N1, N2 nói xe đạp đã hết điện nên chưa về được nên Đ và T1 rủ N1, N2 ở lại ăn cơm, mai về. N1, N2 đồng ý và tiếp tục ngồi nói chuyện. Để có cơ hội quan hệ tình dục với N2 và N1, khoảng 18 giờ thì Đ bảo N1, N2 đến quán bia của bà Phạm Thị O ở gần nhà Đ mua 01 can bia 5 lít và mượn 4 chiếc cốc nhựa thể tích 300ml để uống bia, còn Đ điều khiển xe mô tô chở T1 ra chợ mua đồ ăn là bim bim, đậu phụ và nem cuốn. Trong lúc đi mua đồ ăn Đ nói với T1: “Lát nữa cho con N1 và N2 uống say rồi anh em mình chơi” (ý là quan hệ tình dục), T1 đồng ý. Khi Đ mang đồ ăn về nhà thì bà N không đồng ý cho ăn uống ở nhà nên Đ rủ mọi người sang nhà ông ngoại là cụ Phạm Quang T5 ở cùng thôn (cụ T5 đã chết và nhà hiện không có ai ở) để ăn uống. 4 người ngồi ăn uống tại bàn uống nước gian phòng khách. Do đã bàn nhau từ trước nên T1 và Đ thay nhau mời cháu N1, cháu N2 uống bia; N1, N2 mỗi người uống khoảng 3 cốc bia, số bia còn lại Đ và T1 uống hết.

Đến khoảng 22 giờ, N1, N2 thấy đau đầu, chóng mặt nên cùng đứng dậy đi vào phòng ngủ. Trong phòng ngủ được kê hai giường bằng gỗ, cháu N1 nằm giường ngay gần cửa ra vào còn cháu N2 nằm giường bên trong, giữa hai giường có tủ quần áo bằng gỗ kê sát tường. Đ, T1 thu dọn bát đĩa, trong lúc thu dọn Đ nói với T1: “Mày vào chơi con N1 đi để tao con Ngân xong còn thay ca”. T1 đồng ý và đi vào giường nằm cạnh cháu N1 còn Đ vào giường nằm cạnh cháu N2. T1 cũng bị say bia nên chỉ nằm ôm cháu N1, không quan hệ tình dục, còn Đ lợi dụng cháu N2 say bia không phản kháng được đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu N2. Khi Đ đang quan hệ tình dục thì cháu N2 thấy đau ở bộ phận sinh dục nên tỉnh dậy đẩy Đ ra rồi đứng dậy đi vào nhà vệ sinh,

sau đó cháu N2 sang nằm cùng giường với T1 và cháu N1. Cháu N2 nằm bên phải T1, cháu N1 nằm bên trái T1. Khoảng 30 phút sau, Đ cũng đi sang nằm vào giữa T1 và cháu N2 ngủ. Đến hơn 2 giờ ngày 20/5/2024, Đ tỉnh giấc, sau đó sang chỗ cháu N1 nằm, cháu N1 ngủ say trong tư thế nằm ngửa, Đ dùng hai tay cởi quần đùi cháu N1 đang mặc và thực hiện hành vi quan hệ tình dục với cháu N1. Cháu N1 thấy đau ở bộ phận sinh dục tỉnh dậy nhìn thấy Đ đang nằm đè lên người mình nên đẩy Đ ra và ngồi dậy, Đ túm phía sau áo cháu N1 kéo xuống nhưng cháu N1 đứng dậy rồi vào nằm giữa T1 và cháu N2. Khi thấy Đ đã ngủ, cháu N1 dậy tìm quần mặc rồi nằm ngủ tiếp. Khoảng 5 giờ 30 phút, Đ tỉnh dậy gọi T1, N2, N1 dậy đi về.

Sáng ngày 26/5/2024, T1, Quang M, Lê Tuấn M1, sinh năm 2005 trú tại thôn P, xã L, huyện K đến quán cắt tóc nhà Đ chơi. Đ nói với T1, Quang M, Tuấn M1 nội dung hôm trước Đ cho N2 và N1 uống say rồi chơi N2 và N1 (ý quan hệ tình dục với N2 và N1). Sau đó Đ bảo T1 tối gọi N2 và N1 xuống tiếp tục cho uống say để chơi và rủ Tuấn M1 và Quang M cùng tham gia thì tất cả đồng ý. Sau đó T1 nhắn tin rủ N1 và N2, 2 cháu đồng ý và rủ thêm cháu Hoàng Anh T6, sinh năm 2010, trú tại thôn Đ, xã V, thành phố T (là bạn của N1 và N2) đi cùng. Hơn 20 giờ cùng ngày, N2, N1, T6 đi xe đạp điện xuống nhà ông ngoại Đ chơi, Đ đã chuẩn bị sẵn bia và đồ ăn rồi cùng T1, Tuấn M1, Quang M, N1, N2, T6 ăn, uống bia. Đến khoảng 22 giờ, cháu T6 đòi về nhưng không có ai chở về nên cháu T6 đã gọi bố đẻ là ông Hoàng Mạnh T7 đến đón. Ông T7 gọi điện bảo mẹ cháu N2 là bà Hoàng Thị T3 cùng đi đến nhà ông ngoại Đ đón T6 và N2 về. Tuy nhiên, Đ đưa T6 ra, còn N2 và N1, Đ bảo ở trong nhà không ra. T6 nói với ông T7 là N2 và N1 vẫn còn ở trong nhà ông ngoại Đ nên bà T3 đã đến Công an xã L nhờ giúp đỡ. Công an xã L đã xuống nhà ông ngoại Đ để làm rõ sự việc. Khi Công an xã xuống thì N1, N2, Đ, Tuấn M1 từ trong nhà đi ra còn T1 và Quang M đã về từ trước. Sau đó N2, N1 được đưa về nhà. Sáng ngày 27/5/2024, Đ, T1, Tuấn M1 và Quang M, N1 đến Công an xã L để làm việc và trình bày việc có rủ nhau tụ tập ăn uống ngoài ra không có vấn đề gì khác.

Bản kết luận giám định xâm hại tình dục số 15 ngày 17/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T đối với cháu Trịnh Thị N1, kết luận: Trên phiếu đồ không thấy hình ảnh tinh trùng, xác tinh trùng trong dịch âm đạo; bộ phận sinh dục của cháu Trịnh Thị N1 không thấy tổn thương; màng trinh cháu Trịnh Thị N1: Vị trí 9h có vết rách cũ, không có vết rách mới; tại thời điểm giám định cháu Trịnh Thị N1 không có thai.

Bản kết luận giám định xâm hại tình dục số 16 ngày 17/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T đối với cháu Nguyễn Thảo N2, kết luận: Phiếu đồ không thấy hình ảnh tinh trùng, xác tinh trùng trong dịch âm đạo; bộ phận sinh dục của cháu Nguyễn Thảo N2 không thấy tổn thương; màng trinh cháu Nguyễn Thảo N2: Vị trí 3h có vết rách cũ; tại thời điểm giám định cháu Nguyễn Thảo N2 không có thai.

Cáo trạng số 62/CT-VKSTB ngày 24/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố các bị cáo Lê Thành Đ, Lê Quang T1 về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố.

Người đại diện theo pháp luật của cháu Trịnh Thị N1 trình bày: Các bị cáo đã có hành vi vi phạm pháp luật đối với cháu N1 nên đề nghị Hội đồng xét xử xét xử các bị cáo theo pháp luật. Gia đình bị cáo Đ đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho cháu N1 200.000.000 đồng, gia đình bà đã nhận đủ tiền và không yêu cầu khoản tiền bồi thường nào khác.

Người đại diện theo pháp luật của cháu Nguyễn Thảo N2 trình bày: Các bị cáo đã có hành vi vi phạm pháp luật đối với cháu N2, thực hiện hành vi phạm tội có tính toán từ trước, sau khi phạm tội gia đình các bị cáo không đến xin lỗi cháu N2 và gia đình bà và chưa hỏi han bồi thường tổn thất tinh thần cho cháu N2. Vì vậy, bà T3 đề nghị xử phạt các bị cáo nghiêm khắc, yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho cháu N1 100.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành Đ, Lê Quang T1 phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
  • * Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 142; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thành Đ từ 13 năm đến 15 năm tù.
  • * Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 142; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quang T1 từ 08 năm đến 09 năm tù.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Lê Thành Đ đã tự nguyện bồi thường cho cháu Trịnh Thị N1 200.000.000 đồng, cháu N1 và những người đại diện hợp pháp của cháu N1 đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường khoản

tiền nào khác nên cần ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của hai bên. Đối với cháu Nguyễn Thảo N2, người đại diện đề nghị các bị cáo phải bồi thường tổn thất tinh thần cho cháu N2 100.000.000 đồng nhưng đại diện hợp pháp của bị cáo T1 và bị cáo Đ không chấp nhận bồi thường số tiền theo yêu cầu của gia đình cháu N2 nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 584, 592 Bộ luật Dân sự để buộc các bị cáo bồi thường theo quy định của pháp luật.

  • * Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ 01 can nhựa vàng loại 5 lít, nắp màu xanh; mặt ngoài can có chữ “Tỉnh O”; trả lại bị cáo Lê Thành Đ 01 điện thoại Sam Sung Galaxy Note 10, lắp sim số 0961035621; tịch thu của bị cáo Lê Quang T1 01 điện thoại Xiaomi (Redmin F), lắp sim số 0385947635.

Luật sư Phạm Hữu G trình bày lời bào chữa cho bị cáo Lê Thành Đ: Luật sư không có ý kiến tranh luận gì về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng đó là đã khai báo thành khẩn; gia đình tích cực, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại Trịnh Thị N1; bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội để làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, giúp bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình và trở thành công dân có ích cho xã hội.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Quang T1 trình bày lời bào chữa: Người bào chữa cho bị cáo T1 không có ý kiến tranh luận gì về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về các tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng đó là đã khai báo thành khẩn; bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội; khi phạm tội bị cáo chưa thành niên, nhận thức pháp luật còn rất hạn chế, bị cáo đang học việc cắt tóc nên lệ thuộc vào bị cáo Đ, thực hiện hành vi phạm tội theo sự sai bảo của bị cáo Đ nên phạm tội với vai trò là người giúp sức. Hơn nữa, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bố thì mất sớm, bị cáo nghỉ học từ rất sớm nên thiếu đi sự giáo dục của người cha, của nhà trường. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 90, Điều 91 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, giúp bị cáo yên tâm cải tạo, trở thành công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo Lê Thành Đ, Lê Quang T1 hoàn toàn nhất trí với quan điểm bào chữa của người bào chữa, gửi lời xin lỗi tới các bị hại và gia đình bị hại. Các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại tranh luận: Bà T4 hoàn

toàn đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình về tội danh, điều luật áp dụng đối với các bị cáo Lê Thành Đ, Lê Quang T1. Tuy nhiên, bà T4 cho rằng hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện sự xuống cấp trầm trọng về đạo đức của con người, các bị cáo lợi dụng sự ngây thơ, non nớt của các bị hại, dùng các thủ đoạn như chuốc cho các bị hại uống say để thực hiện hành vi xâm phạm tình dục đối với các bị hại, gây ra những tổn hại về tinh thần của các bị hại. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo theo mức cao nhất mà Viện kiểm sát đề nghị, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo giáo dục các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị bị cáo Đ và gia đình bị hại Trịnh Thị N1 tự nguyện thoả thuận với nhau về bồi thường 200.000.000 đồng nên đề nghị Toà án ghi nhận sự thoả thuận của các bên. Đối với việc bồi thường cho cháu Nguyễn Thảo N2 thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện theo pháp luật của bị hại Trịnh Thị N1 trình bày tranh luận: Bà đồng ý với quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại. Bà không yêu cầu khoản tiền bồi thường nào khác đối với các bị cáo và đề nghị Toà án xét xử mức hình phạt đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Thảo N2 trình bày tranh luận: Bà đồng ý với quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại. Bà T3 yêu cầu các bị cáo phải bồi thường tổn thất tinh thần cho cháu N2 100.000.000 đồng. Nếu bị cáo Đ không đáp ứng việc bồi thường thiệt hại như bà yêu cầu thì bà đề nghị phải xử phạt bị cáo Đ mức hình phạt cao nhất của khung hình phạt, còn bị cáo T1 chỉ là người giúp sức, không trực tiếp xâm phạm tình dục đối với cháu N2 nên bà T3 nhất trí với mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị.

Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị N không chấp nhận yêu cầu bồi thường của bà Hoàng Thị T3 và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Thành Đ nói lời sau cùng: Sau khi phạm tội bị cáo rất ăn năn hối hận, mong được các bị hại và gia đình các bị hại tha thứ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm hình phạt cho bị cáo để sớm được

trở về với gia đình, xã hội và nuôi dạy con cái.

Bị cáo Lê Quang T1 nói lời sau cùng: Sau khi phạm tội bị cáo rất ăn năn hối hận, mong được các bị hại và gia đình các bị hại tha thứ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm hình phạt cho bị cáo để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận, sáng ngày 19/5/2024, Lê Thành Đ đã xúi giục Lê Quang T1 gọi cháu Trịnh Thị N1, sinh ngày 03/4/2010 và cháu Nguyễn Thảo N2, sinh ngày 27/7/2010 xuống nhà Đ chơi với mục đích để quan hệ tình dục với N1 và N2. Hai bị cáo bàn bạc việc mua bia và thay nhau chuốc cho N2, N1 uống say để thực hiện quan hệ tình dục. Sau khi N2, N1 đã uống say không có khả năng tự vệ, chống cự được bị cáo Đ đã thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với cháu N2 01 lần vào tối ngày 19/5/2024 và giao cấu trái ý muốn với cháu N1 01 lần vào khoảng hơn 02 giờ ngày 20/5/2024. Lời khai của các bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền được bảo vệ thân thể, danh dự, nhân phẩm của trẻ em được pháp luật đặc biệt bảo vệ, bởi khi bị tội phạm tấn công, bị hại mới 13 – 14 tuổi, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển bình thường, lành mạnh về tâm sinh lý của các bị hại, đồng thời ảnh hưởng đến an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho các bị hại và cho cộng đồng xã hội. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Các bị cáo dùng thủ đoạn chuốc cho các bị

hại uống say, không có khả năng chống cự để cho bị cáo Đ thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn của các bị hại. Mặc dù bị cáo T1 không quan hệ tình dục với bị các bị hại nhưng có hành vi bàn bạc, thống nhất ý chí với bị cáo Đ chuốc cho cháu N1, cháu N2 uống say để bị cáo Đ đạt được mục đích xâm hại tình dục với họ. Do vậy, bị cáo T1 phạm tội với vai trò là đồng phạm, giúp sức. Điều 142 - Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. ..2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: e) Đối với 02 người trở lên”. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của các bị cáo Lê Thành Đ, Lê Quang T1 đã phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm e khoản 2 Điều 142 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Quang T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Bị cáo Lê Thành Đ xúi giục Lê Quang T1 là người dưới 18 tuổi phạm tội nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội các bị cáo đều thành khẩn khai báo trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử; bị cáo Đ đã cùng với gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tinh thần cho bị hại Trịnh Thị N1 200.000.000 đồng. Vì vậy, bị cáo Đ được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo T1 được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu vi phạm pháp luật, đã biết ăn năn hối cải. Do vậy, có căn cứ để xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt, để cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật, sớm được hòa nhập cộng đồng để trở thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo Lê Quang T1 khi phạm tội mới 16 tuổi 3 tháng 19 ngày, do vậy cần áp dụng các chế định của Bộ luật Hình sự về người chưa thành niên phạm tội quy định tại khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt phù hợp đối với bị cáo T1. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều thống nhất ý chí với nhau để cùng thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo Đ là xúi giục bị cáo T1 rủ N1 và N2, bàn với T1 chuốc bia cho N2, N1 uống say và bị cáo Đ đã xâm hại tình dục đối với N1, N2. Do vậy, vai trò của

bị cáo Đ cao hơn bị cáo T1 nên cần phải xử phạt bị cáo Đ mức án thật nghiêm khắc để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo Đ, bị cáo Đ đã tự nguyện bồi thường cho cháu Trịnh Thị N1 200.000.000 đồng, cháu N1 và người đại diện hợp pháp của cháu N1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác. Do vậy cần ghi nhận sự tự nguyện bồi thường giữa bị cáo Đ và gia đình bị hại Trịnh Thị N1. Tại phiên toà, bà Hoàng Thị T3 – người đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Thảo N2 yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho cháu N2 100.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần. Tuy nhiên, bị cáo Đ, bị cáo T1 và người đại diện hợp pháp của bị cáo T1 không chấp nhận số tiền bồi thường mà bà T3 yêu cầu, đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Theo khoản 2 Điều 592 Bộ luật Dân sự quy định: “..2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định”, do cháu N2 không bị tổn hại sức khoẻ nên Hội đồng xét xử buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường tổn thất tinh thần cho cháu N2 với mức cao nhất là 10 lần mức lương sơ sở hiện hành là 10 x 2.340.000 đồng = 23.400.000 đồng, kỷ phần bị cáo Đ phải bồi thường là 18.720.000 đồng, kỷ phần bị cáo T1 phải bồi thường là 4.680.000 đồng.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 can nhựa vàng loại 5 lít, nắp màu xanh là vật chứng vụ án, giá trị không lớn nên tịch thu tiêu huỷ; 01 điện thoại Sam Sung Galaxy Note 10, lắp sim số 0961035621của bị cáo Lê Thành Đ không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo; 01 điện thoại Xiaomi (Redmin F), lắp sim số 0385947635 bị cáo Lê Quang T1 sử dụng để liên lạc, rủ N1, N2 xuống chơi để thực hiện hành vi phạm tội nên phải tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thành Đ, Lê Quang T1 phạm tội “Hiếp dâm người

dưới 16 tuổi”.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 142; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thành Đ 16 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2024

2.2. Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 142; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quang T1 08 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2024

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 592 Bộ luật Dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận bồi thường giữa bị cáo Lê Thành Đ, gia đình bị cáo Đ và gia đình bị hại Trịnh Thị N1 về việc bị cáo Lê Thành Đ tự nguyện bồi thường cho cháu Trịnh Thị N1 200.000.000 đồng. Buộc bị cáo Lê Thành Đ và người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Quang T1 là bà Phan Thị H1 phải liên đới bồi thường cho bị hại Nguyễn Thảo N2 23.400.000 đồng, kỷ phần của bị cáo Đ phải bồi thường là: 18.720.000 đồng, bà Phan Thị H1 - người đại diện theo pháp luật của bị cáo Lê Quang T1 phải bồi thường: 4.680.000 đồng.

4. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu huỷ 01 can nhựa vàng loại 5 lít, nắp màu xanh; mặt ngoài can có chữ “Tỉnh O”; trả lại bị cáo Lê Thành Đ 01 điện thoại Sam Sung Galaxy Note 10, lắp sim số 0961035621; tịch thu của bị cáo Lê Quang T1 01 điện thoại Xiaomi (Redmin F), lắp sim số 0385947635 để sung ngân sách Nhà nước.

Các vật chứng này có đặc điểm mô tả chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng và đã được chuyển đến Cục thi hành án tỉnh Thái Bình theo Quyết định chuyển vật chứng số 49/QĐ-VKSTB ngày 24/9/2024.

5. Án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí, bị cáo Lê Thành Đ, Lê Quang T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Lê Thành Đ phải chịu 1.170.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; bị cáo Lê Quang T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp bị cáo T1, người bào chữa cho bị cáo T1, người đại diện hợp pháp của các bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 29/10/2024. Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan điều tra CA tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Thái Bình;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hiếp dâm người dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 68/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hiếp dâm người dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Quang Thắng - Lê Thành Đạt phạm tội "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger