Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIÊN LÃNG

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST

Ngày 01-10-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang;
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Nguyễn Hữu Bình;
    • Ông Vũ Đức Bình.
  • - Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Quang Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nguyện - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 84/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60a/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05/9/2024 (Quyết định hoãn phiên tòa số 42a/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 20/9/2024), giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Phạm Thị S, sinh năm 19xx; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
  • - Bị đơn: Anh Tô Trường P, sinh năm 19xx; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Phạm Thị S trình bày:

Chị Phạm Thị S và anh Tô Trường P tự nguyện kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân xã T từ ngày 31 tháng 12 năm 2007. Quá trình chung sống anh chị hòa thuận được 12 năm đầu thì mâu thuẫn phát sinh do bất đồng quan điểm sống; một phần do anh P ham chơi, không quan tâm tới gia đình, vợ con nên vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh P. Mâu thuẫn giữa anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Anh P đã được chị S và gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng anh không thay đổi nên vợ chồng anh chị ngày càng mâu thuẫn trầm trọng và đã sống ly thân từ đầu năm 2020 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Xác định không còn tình cảm với anh P, vợ chồng không thể đoàn tụ chị S yêu cầu được ly hôn anh P. Anh chị có 02 con chung là Tô Thảo N, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2008 và Tô Thảo C, sinh ngày 12 tháng 10 năm 2015. Khi ly hôn, chị S đề nghị Toà án giao cả 02 con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Chị S xin tự thoả thuận với anh P về việc cấp dưỡng cho con và về tài sản chung, chị S xin tự giải quyết với anh P, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Toà án, yêu cầu anh P giao nộp bản tự khai, tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án và triệu tập anh P đến làm việc nhưng anh P đều không thực hiện.

Tài liệu xác minh tại gia đình và địa phương thể hiện: Chị S và anh P tự nguyện kết hôn với nhau theo quy định. Anh chị chung sống hoà thuận với nhau được hơn 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau nên cuộc sống chung không hạnh P. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị S cùng hai con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ đầu năm 2020. Từ đó đến nay anh chị sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Anh chị có 02 con chung như chị S trình bày. Anh P có đăng ký hộ khẩu thường trú và sống tại thôn Đ, xã T, huyện Tg, thành phố Hải Phòng. Tuy nhiên, do từ khi anh chị sống ly thân đến nay, anh P thường xuyên đi làm ăn xa thi thoảng mới về nên 02 con chung của anh chị đều do chị S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc tốt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo về việc thu thập được chứng cứ, tài liệu, mở phiên họp, hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định về thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục tố tụng; phiên toà được mở đúng thời hạn, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định tại Chương XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên họp, phiên hoà giải và tại phiên tòa không có lý do là thực hiện chưa đúng, chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị S, tuyên xử cho chị S được ly hôn anh Tô Trường P. Giao cho chị Phạm Thị S trực tiếp nuôi dưỡng các con Tô Thảo N, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2008 và Tô Thảo C, sinh ngày 12 tháng 10 năm 2015 cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng cho con và về tài sản chung đương sự xin tự giải quyết với nhau, nên không đề nghị xem xét, giải quyết. Chị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị S khởi kiện xin ly hôn anh Tô Trường P và đề nghị giải quyết về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; anh P có đăng ký thường trú tại thôn Đ, xã T, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn (chị S) vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn (anh P) vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị S và anh P.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Lời khai của các đương sự phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu xác minh tại gia đình, địa phương và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, sự phù hợp đó thể hiện: Chị S và anh P tự nguyện kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân Tiên Minh vào ngày 31 tháng 12 năm 2007 là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Trong thời gian chung sống, anh chị hoà thuận được khoảng 12 năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống; một phần do anh P ít quan tâm tới gia đình, vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh P. Do mâu thuẫn căng thẳng anh chị đã sống ly thân nhau từ đầu năm 2020 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Như vậy, có đủ căn cứ xác định, tình trạng hôn nhân của chị S, anh P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, yêu cầu xin ly hôn của chị S là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần được chấp nhận, xử cho chị S được ly hôn anh P.

[4] Về con chung: Anh chị xác nhận có 02 con là Tô Thảo N, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2008 và Tô Thảo C, sinh ngày 12 tháng 10 năm 2015. Từ khi anh chị sống ly thân đến nay, các con chung do chị S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Khi ly hôn, chị S nhận trực tiếp nuôi cả 02 con. Xét thấy, chị S làm công nhân, có thu nhập và nơi ở ổn định; ngoài việc tự mình chăm sóc, chị S còn được gia đình hỗ trợ trong việc chăm sóc các con nên chị S hiện có đủ điều kiện nhận trực tiếp nuôi cả 02 con; anh P thường xuyên đi làm ăn xa, quá trình giải quyết vụ án anh P không có quan điểm về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, cháu Nguyên, cháu C có nguyện vọng được ở cùng với mẹ. Do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con, cần chấp nhận yêu cầu nhận trực tiếp nuôi 02 con của chị S. Căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao con Tô Thảo N và Tô Thảo C cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 01 tháng 10 năm 2024 cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, các đương sự xin tự thoả thuận, không ai yêu cầu Tòa án giải quyết, xét thấy quyền lợi của con vẫn được đảm bảo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, chị S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị S, tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị S được ly hôn anh Tô Trường P.
  2. Về con chung: Giao cho chị Phạm Thị S trực tiếp nuôi dưỡng con Tô Thảo N, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2008 và Tô Thảo C, sinh ngày 12 tháng 10 năm 2015. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 01 tháng 10 năm 2024 cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng cho con, đương sự xin tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Toà án giải quyết.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Phạm Thị S phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, án phí ly hôn sơ thẩm. Chị S đã nộp 300.000 đồng, tiền tạm ứng án phí, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0009021, ngày 16/5/2024 tại C cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng. Như vậy, chị S đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết, thông báo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Tiên lãng;
  • - C cục THADS huyện Tiên Lãng (Để thi hành);
  • - UBND xã Khởi Nghĩa, huyện Tiên Lãng (ĐKKH số 08/2015);
  • - Đương sự (Để thi hành);
  • - Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Huyền Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 01/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger