Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH HÀ

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 68/2024/HS-ST

Ngày 24-9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ,TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Văn Đại và bà Phạm Thị Hoan.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Luyện - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến T - Kiểm sát viên.

Ngày 24/9/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân (viết tắt là TAND) huyện T, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm, công khai, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 11/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HS ngày 12/9/2024, đối với các bị cáo:

- NGUYỄN VĂN Q, sinh năm 1995 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị C; vợ là Phạm Thị T2 và có một con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 25/6/2024 đến ngày 27/6/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Hải Dương, có mặt tại phiên toà.

· NGUYỄN VIẾT Q1, sinh năm 1985 tại tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết S và bà Nguyễn Thị L, tên gọi khác là Nguyễn Thị L1; vợ là Tẩn Thị N và có một con; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 69/2019/HSST ngày 06/8/2019 của TAND thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/4/2020; Bản án số 24/2022/HSST ngày 27/4/2022 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo 16 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (bản án đã áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Tái phạm, theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự), chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/5/2023; về nhân thân: Quyết định số 97/QĐ-XPHC, ngày 14/6/2003 của Công an thành phố H, tỉnh Hải Dương, xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo về hành vi Trộm cắp tài sản; phạt tiền 50.000đ, nộp phạt ngày 14/6/2003; bản án số 33/2003/HSST ngày 29/10/2003 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong hình phạt, án phí; Bản án số 08/2004/HSST ngày 18/3/2004 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản - tổng hợp hình phạt của 02 bản án, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 21 tháng tù, đã chấp hành xong hình phạt, án phí; Bản án số 10/2004/HSST ngày 24/3/2004 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, nộp án phí ngày 31/10/2006, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/7/2006; Quyết định số 01/XP-VPHC, ngày 07/12/2006 của Phòng Cảnh sát điều tra về trật tự xã hội, Công an tỉnh H xử phạt vi phạm vi phạm hành chính về hành vi mua dâm; bản án số 33/2007/HSST ngày 18/9/2007 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; nộp án phí ngày 27/3/2008; chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/6/2008; bản án số 54/2009/HSST ngày 18/3/2009 của TAND thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo 48 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, nộp án phí ngày 05/8/2009, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/11/2012; Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 3737/QĐ-UBND ngày 27/7/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương, bị cáo chấp hành xong ngày 14/6/2017; Quyết định số 81/QĐ-XPVPHC ngày 10/7/2018 của Công an huyện T, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo về hành vi Trộm cắp tài sản, nộp tiền phạt ngày 11/7/2018; tại Quyết định số 88 ngày 25/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Hải Dương ra Quyết định khởi tố bị can về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, theo quy định tại khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; có mặt tại phiên toà.

- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn C1; anh Nguyễn Ngọc K, đều vắng mặt tại phiên toà.

- Người chứng kiến: Ông Đặng Văn H; anh Hoàng Văn T3, ông Hoàng Văn Đ, đều vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ thứ nhất: Do chơi với nhau và biết Nguyễn Văn Q2 có bán ma tuý, nên sáng ngày 09/6/2024, Nguyễn Viết Q3 dùng điện thoại nhắn tin đến điện thoại của Nguyễn Văn Q2 hỏi mua ma tuý, với giá 700.000đ. Nguyễn Văn Q2 đồng ý và bảo Nguyễn Viết Q3 chuyển tiền vào số tài khoản 2938386638 của Ngân hàng thương mại cổ phần V (gọi là V1) mang tên anh Nguyễn Văn C1. Nguyễn Viết Q3 nhờ anh Nguyễn Ngọc K chuyển tiền từ số tài khoản 1025005287 của Ngân hàng thương mại cổ phần N1 (gọi là V2) mang tên Nguyễn Ngọc K vào số tài khoản 2938386638 mang tên Nguyễn Văn C1 cho Nguyễn Văn Q2. Sau khi Nguyễn Văn Q2 nhận được tiền, đến khoảng 11 giờ 00 phút ngày 09/6/2024, Nguyễn Viết Q3 đến địa phận thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương, tại đây Nguyễn Văn Q2 đưa cho Nguyễn Viết Q3 một túi nilon, kích thước 3cm x 3cm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (các bị cáo khai nhận chất rắn dạng tinh thể màu trắng, là ma tuý) Nguyễn Viết Q3 cất giấu số ma tuý trên trong người mang về nơi ở của gia đình tại xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 09/6/2024 tại nơi ở của gia đình Nguyễn Viết Q3 thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Viết Q3 bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ một túi nilon kích thước 3cm x 3cm bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone8, lắp sim số 0346633329. Nguyễn Viết Q3 đã khai nhận nguồn gốc số ma tuý nói trên là của Nguyễn Văn Q2, mục đích để cất giấu sử dụng cho bản thân.

Vụ thứ hai: Ngày 25/6/2024, Nguyễn Văn Q2 đem theo một hộp giấy hình chữ nhật bên trong đựng ma tuý, bên ngoài quấn băng dính màu đen, cất giấu trong túi quần bên trái. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 25/6/2024, khi Nguyễn Văn Q2 đang đi bộ trên đường T thuộc địa phận thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái Nguyễn Văn Q2 01 hộp giấy hình chữ nhật, kích thước 5cm x 3cm x5cm, bên ngoài quấn băng dính màu đen, trong hộp có 05 túi nilon chứa chất tinh thể rắn màu trắng (gồm 02 túi kích thước giống nhau 1,5cm x1,5cm; 02 túi kích thước giống nhau 5,5cm x4cm; 01 túi kích thước 6cm x 4cm), bên trong các túi chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng Nguyễn Văn Q2 khai nhận là ma tuý, mang đi bán để kiếm lợi nhuận, hưởng chênh lệch bằng tiền.

Tại bản Kết luận giám định số 295/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của phòng K1, Công an tỉnh H, kết luận, đối với các vật chứng thu giữ của Nguyễn Viết Q3: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì, ghi thu của Nguyễn Viết Q3 gửi đến giám định tổng khối lượng là 0,596 gam là ma tuý, loại Methamphetamine.

Tại bản Kết luận giám định số 330/KL-KTHS ngày 27/6/2024 của phòng K1, Công an tỉnh H, kết luận, đối với các vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn Q2: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong hai túi nilon màu trắng, kích thước 1,5cm x 1,5cm được niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định tổng khối lượng là 0,382 gam là ma tuý, loại Methamphetamine. Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong hai túi nilon màu trắng, kích thước 5,5cm x 4cm được niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định tổng khối lượng là 4,832 gam là ma tuý, loại Methamphetamine. Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong hai túi nilon màu trắng, kích thước 6cm x 4cm được niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định tổng khối lượng là 4,899 gam là ma tuý, loại Methamphetamine.

Tại bản Cáo trạng số 52/CT-VKSHD-TH ngày 09/8/2024, VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Viết Q3 về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Truy tố Nguyễn Văn Q2 về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX): Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết Q3 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Viết Q3; xử phạt Nguyễn Viết Q3 từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q2 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Văn Q2; xử phạt Nguyễn Văn Q2 từ 08 năm 06 tháng tù đến 09 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ. Về hình phạt bổ sung, không áp dụng đối với các bị cáo. Về vật chứng, đề nghị tịch thu cho tiêu huỷ một bì niêm phong vật chứng số 295/KL-KTHS; một bì niêm phong vật chứng số 330/KL-KTHS đều của phòng K1, Công an tỉnh H hoàn lại mẫu vật sau giám định và một sim điện thoại có số 0346.633.xxx; tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: một điện thoại di động Iphone 8, màu vàng, số imei 356736081554619 của Nguyễn Viết Q3 và số tiền 2.700.000đ của Nguyễn Văn Q2. Yêu cầu Công ty V3 (V) trực thuộc Tổng Công ty V4 thu hồi số thuê bao di động 0346633329; Về án phí, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên; VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình giải quyết vụ án người làm chứng, người chứng kiến đã được Toà án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của những người nói trên không gây trở ngại khách quan cho việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX xét xử vụ án vắng mặt những người nói trên.

[2]. Về chứng cứ xác định bị cáo Nguyễn Văn Q2, Nguyễn Viết Q3 có tội và điều luật áp dụng: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa, vì vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 09/6/2024 tại địa phận thôn C, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn Q2 đã có hành vi bán trái phép 0,596 gam ma tuý, loại Methamphetamine cho Nguyễn Viết Q3 với giá 700.000đ. Sau khi có được số ma tuý nói trên, Nguyễn Viết Q3 đã cất giấu, tàng trữ trái phép 0,596 gam ma tuý, loại Methamphetamine tại phòng ngủ tầng 2 của gia đình thuộc địa phận thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương với mục đích để sử dụng cho bản thân, thì bị phát hiện, bắt giữ.

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 25/6/2024, tại khu vực đường tỉnh lộ 390 thuộc địa phận thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn Q2 có hành vi cất giấu trái phép 10,113 gam ma tuý, loại Methamphetamine với mục đích bán để kiếm lợi nhuận hưởng chênh lệch bằng tiền, thì bị phát hiện bắt giữ.

Xét các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, trong đó Nguyễn Văn Q2 nhận thức rõ việc bán trái phép 0,596 gam ma tuý cho Nguyễn Viết Q3 vào ngày 09/6/2024 với giá 700.000đ và cất giấu trong người 10,113 gam ma tuý, đều là Methamphetamine để bán kiếm lợi nhuận, hưởng chênh lệch bằng tiền vào ngày 25/6/2024 và Nguyễn Viết Q3 nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép 0,596 gam ma tuý, loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân, đều là các hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, hành vi của Nguyễn Văn Q2 đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy, được quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự; hành vi của Nguyễn Viết Q3 đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này, Nguyễn Văn Q2 có hành vi bán trái phép ma tuý cho Nguyễn Viết Q3 vào ngày 09/6/2024 và cất giấu trái phép 10,113 gam ma tuý vào ngày 25/6/2024 (đều là ma tuý loại Methamphetamine) với mục đích để kiếm lợi nhuận hưởng chênh lệch bằng tiền, nên thuộc trường hợp tình tiết định khung Phạm tội 02 lần trở lên và Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam, được quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Đối với Nguyễn Viết Q3, HĐXX thấy rằng: Tại bản án bản án số 69/2019/HSST ngày 06/8/2019 của TAND thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và bản án số 24/2022/HSST ngày 27/4/2022 của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt bị cáo 16 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, đồng thời tại bản án này đã xác định bị cáo Tái phạm, ngày 10/5/2023 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù. Nay bị cáo lại tiếp tục phạm tội, nên lần phạm tội này của Nguyễn Viết Q3 thuộc trường hợp Tái phạm nguy hiểm, được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, quyết định truy tố của VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX xác định: Nguyễn Văn Q2 là người chưa có tiền án, tiền sự; Nguyễn Viết Q3 là người có nhân thân xấu đã bị Toà án kết án, bị xử lý hành chính; ngoài ra ngày 02/6/2024, bị cáo còn có hành vi mua bán ma tuý và bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Hải Dương ra Quyết định khởi tố về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, theo quy định tại khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp của các bị cáo là lao động tự do, thu nhập không đáng kể, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo như theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Về xử lý vật chứng:

[5.1]. Đối với số tiền 700.000đ và một điện thoại kèm theo sim số của Nguyễn Văn Q2 dùng liên lạc để bán ma tuý cho Nguyễn Viết Q3 vào ngày 09/6/2024; quá trình giải quyết vụ án, bị cáo khai nhận điện thoại kèm theo sim số đã bán cho người không biết tên tuổi, địa chỉ được số tiền 2.000.000đ. Xét số tiền 700.000đ có được do phạm tội mà có và một điện thoại bị cáo sử dụng vào việc phạm tội đã bán được 2.000.000đ, nên HĐXX tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước tổng số tiền 2.700.000đ.

[5.2]. Đối với một điện thoại Iphone 8, màu vàng, số imei 356736081554619 bên trong gắn sim số 0346633329 của Nguyễn Viết Q3 dùng để liên lạc mua ma tuý của Nguyễn Văn Q2. Xét điện thoại nói trên là tài sản của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước. Đối với một sim điện thoại ghi số 0346.633.xxx sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, tiêu huỷ. Về số thuê bao di động 0346633329 Nguyễn Viết Q3 sử dụng vào việc phạm tội, là số thuê bao của Công ty V3 (V) trực thuộc Tổng Công ty V4, nên HĐXX đề nghị Công ty V3 (V) trực thuộc Tổng Công ty V4, thu hồi số thuê bao di động nói trên. Đối với số tiền trong tài khoản của sim số điện thoại 0346.633.xxx, qua xác minh không còn tiền trong tài khoản, nên HĐXX không đặt ra để giải quyết.

[5.3]. Đối với các phong bì thư dán kín niêm phong do phòng K1 Công an tỉnh H hoàn lại sau khi đã giám định bên trong có chứa chất ma túy. Xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

[6]. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn Q2, Nguyễn Viết Q3 bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm như theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7]. Về các vấn đề khác:

[7.1]. Đối với số ma tuý của Nguyễn Văn Q2 bán cho Nguyễn Viết Q3 vào ngày 09/6/2024 và số ma tuý Nguyễn Văn Q2 cất giữ mục đích để bán kiếm lợi nhuận, bị lực lượng Công an phát hiện vào ngày 25/6/2024 do Nguyễn Văn Q2 mua của người không biết tên tuổi, địa chỉ vào khoảng đầu tháng 6/2024 tại quận H, thành phố Hải Phòng. Quá trình giải quyết vụ án chưa làm rõ được đặc điểm nhân thân, lý lịch của người đã bán ma tuý cho Nguyễn Văn Q2, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện T, tỉnh Hải Dương tiếp tục xác minh, xử lý sau.

[7.2]. Đối với anh Nguyễn Ngọc K, quá trình điều tra xác định được Nguyễn Viết Q3 nhờ chuyển tiền hộ từ tài khoản tại ngân hàng của mình đến số tài khoản của anh Nguyễn Văn C1; đối với anh C1 là người được Nguyễn Văn Q2 nhờ nhận tiền hộ qua tài khoản ngân hàng từ anh K chuyển tiền do Nguyễn Viết Q3 nhờ. Quá trình giải quyết vụ án, các anh K, C1 đều không biết đó là tiền do mua bán ma tuý và không được hưởng lợi. Do đó không có căn cứ để xử lý anh K, anh C1.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Văn Q2.

Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Viết Q3.

1. Về tội danh: Tuyên bố, bị cáo Nguyễn Văn Q2 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Nguyễn Viết Q3 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

2.1 - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q2 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/6/2024.

2.2 - Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Q3 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/6/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

3.1 - Về Tịch thu, tiêu huỷ: Một bì niêm phong vật chứng số 295/KL-KTHS của phòng K1, Công an tỉnh H hoàn lại mẫu vật sau giám định và một bì niêm phong vật chứng số 330/KL-KTHS của phòng K1, Công an tỉnh H hoàn lại mẫu vật sau giám định; một sim điện thoại có số 0346.633.xxx.

3.2 - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: Một điện thoại di động Iphone 8, màu vàng, số imei 356736081554619 của bị cáo Nguyễn Viết Q3 và số tiền 2.700.000đ của bị cáo Nguyễn Văn Q2. Yêu cầu Công ty V3 (V) trực thuộc Tổng Công ty V4, thu hồi số thuê bao di động 0346633329.

Vật chứng nêu trên có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Hải Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương ghi ngày 18/9/2024.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn Q2, Nguyễn Viết Q3 mỗi một người phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Thanh Hà;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan CSĐT, THAHS Công an huyện Thanh Hà;
  • - Công an huyện Thanh Hà;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Thanh Hà;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Hà;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; lưu Toà án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Tuân

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 68/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Quang phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Nguyễn Viết Quang phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger