|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST Ngày 17-9-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hải.
- Bà Nguyễn Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lường – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Nguyên – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 222/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QĐST- HNGĐ ngày 29/8/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị H Truyên B, sinh năm 1986 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Địa chỉ: Buôn J (Nay là Buôn J), xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- - Bị đơn: Anh Y Đức K, sinh năm 1994 (Vắng mặt).
- Địa chỉ: Buôn J, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị H Truyên Byă trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị H Truyên B và anh Y Đ Kbuôr đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, sau đó tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương, rồi chuyển về làm ăn, sống chung với nhau tại Buôn J (Nay là Buôn J), xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk và có đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện K theo Giấy chứng nhận kết hôn số 67 ngày 17 tháng 5 năm 2016.
Sau khi đăng ký kết hôn đến nay thì vợ, chồng chị thường xuyên xảy ra cãi vã nhau do mâu thuẫn về tính cách không hợp. Vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, không có sự tôn trọng, chia sẻ với nhau, lâu dần tình cảm vợ chồng trở nên mờ nhạt, xa cách dần. Nguyên nhân là do anh Y Đ Kbuôr thường xuyên rượu chè, không lo làm ăn phụ giúp gia đình, trong cuộc sống hôn nhân thì luôn tìm cách gây sự, đánh đập chị H T. Vì nghĩ cho hạnh phúc gia đình, tâm lý và tình cảm hai bên gia đình nên chị H T cho anh Y Đ cơ hội thay đổi bản thân chăm lo cho và phát triển kinh tế gia đình nên mới cố gắng kéo dài mối quan hệ hôn nhân này. Việc xung đột này, chị H T đã động viên, khuyên nhủ anh Y Đ nhiều lần để cả hai cố gắng vun vén cho cuộc sống hôn nhân nhưng cuộc sống hôn nhân vẫn không tiến triển. Hiện nay, chị H T và anh Y Đ đã sống ly thân với nhau từ đầu năm 2017. Nhận thấy không thể kéo dài cuộc hôn nhân nên chị H Truyên Byă yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Y Đức K.
- Về con chung: Chị H Truyên Byă xác nhận, chị và anh Y Đ Kbuôr có 01 con chung là cháu Y Minh Kiều B1, sinh ngày 08/9/2015. Chị H Truyên Byă có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Y Minh Kiều B1 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H Truyên Byă không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị H Truyên Byă không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Y Đức K: Trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không tham gia tố tụng nên Tòa án không ghi được lời khai.
Qua xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị H Truyên B và anh Y Đức K thì Chính quyền địa phương cho biết: Chị H Truyên Byă và anh Y Đ Kbuôr là vợ chồng, có chung sống tại Buôn J (Nay là Buôn J), xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống, chị H Truyên B và anh Y Đ Kbuôr không yêu cầu ban tự quản buôn hòa giải, can thiệp về hôn nhân nên ban tự quản buôn không nắm được H Truyên Byă và anh Y Đức K có mâu thuẫn hay không và nguyên nhân vì sao. Nhưng anh Y Đức K đã về sinh sống cùng cha mẹ đẻ và sống ly thân với chị H Truyên Byă từ năm 2017 cho đến nay.
* Ý kiến của Kiểm sát viên:
- Về tố tụng: Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án; xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự; việc thu thập chứng cứ, trình tự giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).
Trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành các quy định của Pháp luật.
- Về nội dung: Qua các các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, đề nghị HĐXX Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khản 1 Điều 39 BLTTDS. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân gia đình:
Về quan hệ hôn nhân cho chị H Truyên Byă được ly hôn với anh Y Đức K.
Về con chung: Giao cháu Y Minh Kiều B1, sinh ngày 08/9/2015 cho chị H Truyên Byă chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Y Minh Kiều B1 đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H Truyên Byă không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị H Truyên Byă không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1] Về tố tụng và quan hệ pháp luật cần giải quyết:
Chị H Truyên Byă khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con với anh Y Đ Kbuôr có nơi cư trú tại buôn J (nay là buôn J), xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Quan hệ pháp luật cần giải quyết là Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn anh Y Đ Kbuôr cố tình vắng mặt, tại phiên tòa lần thứ hai anh Y Đ Kbuôr vẫn vắng mặt. Nguyên đơn chị H Truyên B có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân:
Chị H Truyên Byă với anh Y Đức K tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 24/01/2014. Hôn nhân của chị H Truyên B, anh Y Đ Kbuôr là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, chồng không quan tâm gia đình. Mặc dù chị H T đã cố gắng hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện, vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay nhưng hai bên không có biện pháp gì khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần động viên chị H Truyên Byă trở lại đoàn tụ với anh Y Đức K nhưng không thành. Chị H Truyên Byă vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Y Đức K. Đối với Y Đức K, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt nên không ghi nhận ý kiến được. HĐXX xét thấy, tình trạng vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.”
Như vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, HĐXX cần giải quyết cho chị H Truyên Byă được ly hôn với anh Y Đức K.
[2.2] Về con chung:
Chị H Truyên Byă xác nhận, chị và anh Y Đ Kbuôr có con chung là Y Minh Kiều B1, sinh ngày 08/9/2015. HĐXX xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, cháu Y Minh Kiều B1 có nguyện vọng được ở cùng chị H T. Anh Y Đức K không hợp tác nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Y Đ. Mặt khác qua xác minh tại chính quyền địa phương xác nhận: Hiện nay cháu Y Minh Kiều B1 đang sinh sống cùng chị H T, chị H Truyên có nguyện vọng tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Y Minh Kiều B1 cho đến khi cháu Y Minh Kiều B1 đủ 18 tuổi. Xét nguyện vọng của cháu Y Minh Kiều B1 và chị H Truyên B, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên. Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, HĐXX cần giao cháu Y Minh Kiều B1, sinh ngày 08/9/2015 cho chị H Truyên Byă tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với pháp luật.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung:
Chị H Truyên Byă không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung:
Chị H Truyên Byă không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[2.5] Về án phí:
Chị H Truyên Byă phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm.
[3] Xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên cần chấp nhận toàn bộ quan điểm của Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H Truyên B:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị H Truyên Byă được ly hôn với anh Y Đức K.
- - Về con chung: Giao con chung là cháu Y Minh Kiều B1, sinh ngày 08/9/2015 cho chị H Truyên Byă chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Y Minh Kiều B1 đủ 18 tuổi.
- - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H Truyên Byă không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Y Đức K được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị H Truyên Byă phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số AA/2023/0005820 ngày 11/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Thông báo quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Thành Tâm |
Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HON VA TRANH CHAP NUOI CON
