TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2024/HS-ST Ngày: 17 - 9 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng
Ông Phạm Văn Tài
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định xét xử số 81/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 08 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 13/2024/TB-TA ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
- Bị cáo Nguyễn Anh T, sinh ngày 05/12/1982, nơi sinh: tại Kiên Giang. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Số D đường M, Tổ G, khu phố N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam, Tôn giáo: Không, con ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1956 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1955; Vợ là Huỳnh Thanh T2 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2004.
- Tiền sự: Bị cáo bị xử phạt hành chính theo Quyết định số 193/QĐ-XPHC ngày 22/11/2022 về hành vi trộm cắp tài sản (chưa nộp phạt).
- Tiền án: Có 01 tiền án. Năm 2023, bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 06/2023/HS-ST ngày 07/03/2023 (chưa xoá án tích).
- Về nhân thân bị cáo:
- + Bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Đánh bạc” theo Bản án số 155/2007/HS-ST ngày 21/8/2007 của Toà án nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiên Giang (đã xoá án tích).
- + Năm 2011, bị cáo bị Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” tại Bản án số 138/2011/HS-PT ngày 27/7/2011 của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang (đã xoá án tích).
- + Bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa xoá án tích).
- + Ngày 22/8/2024, bị cáo Nguyễn Anh T bị Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bản án chưa có hiệu lực pháp luật).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2024 đến ngày 12/4/2024 bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Đặng Văn H1, sinh năm: 1988 (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thanh P, sinh năm: 1979 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/4/2024, bị cáo Nguyễn Anh T cư trú tại khu phố N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang đã đến tổ B, ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Kiên Giang thì T nhìn thấy 01 xe gắn máy biển kiểm soát 68NA-014.73 để trong nhà anh Đặng Văn H1, chìa khoá gắn trên xe, không có người trông giữ. Nguyễn Anh T đến mở khoá và điều khiển xe chạy về hướng thành phố R. Khi bị cáo đến địa phận xã M thì bị Công an xã M phát hiện, bắt giữ.
* Tại bản kết luận tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 12/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H đã kết luận:
Chiếc xe gắn máy nhãn hiệu NAGAKI; số loại 50, biển số 68NA-01473, số máy 010755, sơn màu đỏ đen, hai bánh vành đúc, bình xăng con, dung tích xilanh 49cm³, đã qua sử dụng, được định giá là 2.300.000đồng.
* Vật chứng trong vụ án:
Chiếc xe gắn máy nhãn hiệu NAGAKI; số loại 50, biển số 68NA-01473, số máy 010755, sơn màu đỏ đen, hai bánh vành đúc, bình xăng con, dung tích xilanh 49cm³, đã qua sử dụng.
* Tại Cáo trạng số 83/CT-VKS-HĐ ngày 21 tháng 08 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang truy tố:
Bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Anh T tội ““Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù giam.
* Về trách nhiệm dân sự.
- - Bị hại Đặng Văn H1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Xử lý vật chứng: Ghi nhận Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 573/QĐ-CSĐT về việc trả lại tài sản cho bị hại Đặng Văn H1.
* Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Anh T có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Anh T.
Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
- Tại phiên toà bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Anh T khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đã truy tố đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Về tố tụng: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2]. Về hành vi phạm tội và tội danh: Bị cáo Nguyễn Anh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo; Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, cùng với đặc điểm vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận:
Ngày 09/4/2024, bị cáo Nguyễn Anh T đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong quản lý tài sản nên bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô mang biển số 68NA-01473 của anh Đặng Văn H1, với giá trị tài sản đã được Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng đã kết luận với số tiền là 2.300.000 đồng.
Do đó, hành vi của các bị cáo Nguyễn Anh T đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội danh, điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.
- [3]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Nguyễn Anh T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có bị cáo có trình độ văn hoá (12/12) có đủ hiểu biết để biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích kiếm tiền tiêu xài cá nhân; hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ xem thường pháp luật, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt thật nghiêm để răn đe, để giáo dục bị cáo đồng thời để phòng ngừa chung cho xã hội.
- [4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h Điều 52 của BLHS năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- [5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- [6]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo có thể bị hình phạt bổ sung là phạt tiền với số tiền 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Đặng Văn H1 đã nhận lại tài sản, không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường nên HĐXX không xem xét.
- [8]. Về xử lý vật chứng: Ghi nhận Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 573/QĐ-CSĐT ngày 06 tháng 06 năm 2024 về việc trả lại tài sản cho bị hại Đặng Văn H1.
- [9]. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- * Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Anh T 12 (mười hai) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo T vào chấp hành án nhưng có khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/4/2024 đến ngày 12/4/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Anh T.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Ghi nhận Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 573/QĐ-CSĐT ngày 06 tháng 06 năm 2024 về việc trả lại tài sản cho bị hại Đặng Văn H1.
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Anh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Anh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại Đặng Văn H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thanh P có đơn xin xét xử vắng mặt là có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tú Quỳnh |
6
7
Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 68/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
