TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HÓA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2024/HS-ST
Ngày: 09 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quách Hà Vính
2. Bà Quách Thị Tình
Thư ký phiên toà: Ông Lê Tiến Trường – Thư ký tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 59/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HS, ngày 28/8/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Bùi Văn T; Sinh ngày: 03/5/1994, tại xã T, huyện T, Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện T, Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1 – Sinh năm 1968; con bà: Phạm Thị Q - Sinh năm 1960; tiền án: tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, từ ngày 29/3/2024 cho đến nay cho đến nay. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Bùi Minh Đ; Sinh ngày: 26/5/1996, tại xã T, huyện T, Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Giang S (đã chết); con bà: Lê Thị L - Sinh năm 1971; tiền án: tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, từ ngày 29/3/2024 cho đến nay cho đến nay. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng:
* Người làm chứng
- Anh Đinh Văn T2, sinh năm: 1986 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. - Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm: 1986 (Có đơn xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. - Anh Lê Đức V, sinh năm: 1996 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố A L, thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 29/3/2024, nhận được thông tin phản ánh của quần chúng nhân dân về việc một nhóm thanh niên có biểu hiện tụ tập sử dụng ma túy. Tổ công tác Công an huyện T đã tiến hành kiểm tra tại chỗ ở của Bùi Minh Đ, sinh năm 1996 thuộc thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Qua kiểm tra phát hiện trong gian bếp của gia đình Bùi Minh Đ, ngoài Đ còn có thêm 04 (bốn) thanh niên gồm: Bùi Văn T, sinh năm 1994, trú tại thôn B, xã T, huyện T; Đinh Văn T2, sinh năm 1986, trú tại thôn C, xã T, huyện T; Lê Đức V, sinh năm 1996, trú tại khu phố A, thị trấn K, huyện T và Nguyễn Văn T3, sinh năm 1996, trú tại thôn H, xã T, huyện T đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tại chỗ Tổ công tác đã thu giữ 01 túi nilon màu trắng có kích thước 03x05cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng (nghi là ma túy); 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 (một) chai nhựa màu trắng cao khoảng 20 cm có nắp nhựa màu trắng được đục 02 lỗ, một lỗ gắn với ống hút nhựa màu đen dài khoảng 07cm, lỗ còn lại gắn với ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 13cm, một đầu gắn ống thủy tinh bị vỡ (dạng ống philatop). Tổ công tác đã niêm phong toàn bộ số tang vật nói trên và đưa các đối tượng về trụ sở UBND xã T để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định.
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 18 giờ ngày 29/3/2024, Bùi Văn T, Đinh Văn T2 và Nguyễn Văn T3, Lê Đức V là bạn bè quen biết, cùng nhau đi uống bia ở quán “C" thuộc khu phố A, thị trấn K, huyện T. Sau khi uống bia xong thì cùng nhau đi đến quán “Đại An” thuộc thôn H, xã T, huyện T để hát Karaoke. Hát được khoảng một lúc thì do có việc gia đình nên Lê Đức V về trước. Đến khoảng 20 giờ 30 phút ngày 29/3/2024, do đã uống nhiều rượu, bia và có nhu cầu sử dụng ma túy nên trong quá trình hát Karaoke Bùi Văn T nhắn tin qua M cho Bùi Minh Đ rủ Đ đi mua ma túy về để sử dụng. Bùi Minh Đ đồng ý nhưng không có tiền nên đã bảo T chuyển T4 cho Đ để đi mua ma túy. Lúc này, Bùi Văn T cũng không có tiền nên đã hỏi vay Đinh Văn T2 1.000.000 đồng (một triệu đồng), (khi vay tiền T2 không hỏi và T cũng không nói cho T2 biết là vay tiền để làm gì). Khi T2 đồng ý cho vay tiền thì T bảo Đ gửi số tài khoản ngân hàng của Đ cho T, sau đó T đọc số tài khoản của Đ để nhờ T2 chuyển khoản. Sau đó, Bùi Văn T và mọi người tiếp tục hát tại quán Đ1 đến khoảng 21 giờ 30 phút thì thôi không hát nữa. Lúc này, Bùi Văn T rủ Đinh Văn T2 và Nguyễn Văn T3 xuống nhà bạn của T để lấy xe mô tô T để nhờ trước đó thì T2 và T3 đồng ý và cùng với T đi đến nhà Bùi Minh Đ ở thôn Đ, xã T, huyện T. Khi xuống đến nơi thì Đ không có nhà, thấy cổng không khóa nên Bùi Văn T, Đinh Văn T2, Nguyễn Văn T3 đi vào khu vực nhà bếp của gia đình Đ ngồi chơi nói chuyện. Tại đây, Bùi Văn T lấy điện thoại của mình gọi cho Lê Đức V rủ xuống nhà Đ để chơi, V đồng ý và đi xe máy một mình đến nhà Đ.
Đối với Bùi Minh Đ ngay sau khi nhận được tiền trong tài khoản Bùi Minh Đ lấy xe máy của mình đi tìm mua ma túy. Khi đi đến thị trấn K, huyện T thì Bùi Minh Đ gặp Cù Huy L1 (là bạn của Đ), sinh năm 1990, trú tại thôn P, xã T, huyện T. Do muốn có tiền mặt để tiện giao dịch trong việc mua ma túy nên Đ đã nhờ L1 đưa cho Đ 1.000.000 đồng (một triệu đồng) tiền mặt và Đ đã chuyển khoản cho Cù Huy L1 1.000.000 đồng (một triệu đồng), (L1 không biết Đ chuyển khoản lấy tiền mặt để đi mua ma túy). Sau khi có tiền mặt Đ tiếp tục điều khiển xe máy đến huyện N, tỉnh Ninh Bình để tìm mua ma túy. Tại đây, Đ mua được của một người đàn ông lạ mặt, không quen biết 01 gói ma túy với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Sau khi mua được ma túy, Đ quay về nhà mình thấy mọi người đang tập trung ở gian bếp, Đ liền nhặt xung quanh khu vực nhà bếp ống hút nước, chai nhựa, ống thủy tinh philatop lắp ráp thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Bùi Minh Đ trực tiếp pha chế, đổ ma túy vào ống thủy tinh và dùng bật lửa đốt lên đưa cho Đinh Văn T2, Nguyễn Văn T3, Lê Đức V sử dụng theo thứ tự lần lượt. Tuy nhiên, Nguyễn Văn T3 không sử dụng mà chỉ có Đinh Văn T2 và Lê Đức V sử dụng. Đến lượt Bùi Minh Đ, Bùi Văn T chuẩn bị sử dụng thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số 1377/KL-KTHS ngày 04/4/2024 của phòng K Công an tỉnh T kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng chứa trong túi nilon màu trắng có kích thước khoảng (3x5) cm của hộp giấy cát tông niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,138g loại Metamphetamine. Tìm thấy chất ma túy loại Metamphetamine bám dính bên trong chai nhựa màu trắng cao khoảng 20cm, ống hút nhựa màu đen dài khoảng 07cm và ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 13cm, một đầu gắn ống thủy tinh dạng ống philatop bị vỡ của hộp giấy catton niêm phong gửi giám định. (BL: 79)
Về nguồn gốc ma túy, Bùi Minh Đ khai nhận, sau khi trao đổi, thống nhất với Bùi Văn T về việc sử dụng ma túy và nhận được tiền trong tài khoản thì Đ đã đi đến khu vực huyện N, tỉnh Ninh Bình tìm mua ma túy của một người đàn ông lạ mặt (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) một gói ma túy với giá 1.000.000 đồng (một triệu đồng) về để sử dụng. Đ khai chỉ biết người bán ma túy cho Đ tên là “T5” nhưng không biết danh tính, địa chỉ cụ thể cũng không thể nhận dạng được các đặc điểm của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.
Kết quả xác minh về tài sản, thu nhập của bị cáo Bùi Minh Đ và Bùi Văn T xác định hiện tại các bị cáo không có công ăn việc làm, không có thu nhập và tài sản.
Đối với số ma túy thu giữ tại bếp của Bùi Minh Đ có tổng khối lượng 0,138g (không phẩy một ba tám gam), loại Methaphetamine. Các đối tượng đều khai nhận sẽ cùng nhau sử dụng hết nếu không bị bắt quả tang. Mặt khác, hoạt động “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đang diễn ra, khối lượng ma túy còn lại ít, một số đối tượng còn chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang nên không có cơ sở xem xét, xử lý đối với hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điều 249 Bộ luật hình sự.
Đối với Đinh Văn T2 là người đã cho Bùi Văn T vay số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để chuyển khoản cho Bùi Minh Đ mua ma túy. Quá trình Bùi Văn T vay tiền của T2, T2 không biết mục đích T vay tiền để làm gì nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T không có cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Đinh Văn T2. Tuy nhiên, Đinh Văn T2 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã chuyển chuyển hồ sơ đến Công an huyện T ra Quyết định xử phạt hành chính đối với T2 là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với Lê Đức V là người được T, Đ tổ chức để sử dụng ma túy, không tham gia hoạt động nào trong quá trình tổ chức sử dụng ma túy nên không cấu thành tội phạm, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã chuyển chuyển hồ sơ đến Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Lê Đức V là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Văn T3 là người có mặt tại nơi xảy ra vụ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng T3 không tham gia hoạt động gì, cũng không sử dụng trái phép chất ma túy nên không có căn cứ để xử lý T3.
Đối với Cù Huy L1 là người được Bùi Minh Đ nhờ chuyển khoản 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để lấy tiền mặt. Tuy nhiên Cù Huy L1 không biết mục đích đổi tiền mặt của Bùi Minh Đ để đi mua ma túy nên không có cơ sở để xử lý L1.
Về vật chứng vụ án:
Đối với 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu đen, nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY S8, bên trong có gắn thẻ sim số 0963.512.872; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA WINER, màu xanh, BKS 36E1-265.87 của Đinh Văn T2; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA WINER, màu sơn trắng, BKS 36E1-287.44 của Nguyễn Văn T3 không liên quan đến vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Các mẫu vật hoàn lại sau giám định bao gồm toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của hộp giấy catton và 0,114g (không phẩy một một bốn gam) các hạt tinh thể màu trắng; 01 chai nhựa màu trắng cao khoảng 20cm, có nắp nhựa màu trắng đục 02 lỗ nhỏ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu đen dài khoảng 07cm, lỗ còn lại gắn ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 13cm, một đầu gắn ống thủy tinh (dạng ống philatop) bị vỡ. Tất cả được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K - Công an tỉnh T phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên của Lê Minh T6, Trần Thị Thúy H, Phạm Thanh H1 và các hình dấu của phòng K Công an tỉnh T và 01 (một) bật lửa ga màu đỏ; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh, nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A3, bên trong có gắn thẻ sim số thuê bao 0383.049.288; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu đen trắng, không có biển kiểm soát của Bùi Minh Đ; 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE XR, bên trong có gắn thẻ sim số thuê bao 0349.627.102; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen, BKS 36E1 – 127.11 của Bùi Văn T, các vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành chờ xử lý theo quy định.
*Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKSTT ngày 15/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
*Phần tranh tụng tại phiên tòa:
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm, quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử bị cáo Bùi Văn T, Bùi Minh Đ mức án từ 07 (B) đến 08 (T7) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 29/3/2024. Không đề nghị xử phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định bao gồm toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của hộp giấy catton và 0,114g (không phẩy một một bốn gam) các hạt tinh thể màu trắng; 01 chai nhựa màu trắng cao khoảng 20cm, 01 (một) bật lửa ga màu đỏ; 01 thẻ sim số thuê bao 0383.049.288; 01 thẻ sim số thuê bao 0349.627.102.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh, nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A3 của Bùi Minh Đ; 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE XR của Bùi Văn T là vật liên quan d đến hành vi phạm tội. Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Trả lại cho bị cáo Bùi Minh Đ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu đen trắng, không có biển kiểm soát; Trả lại cho bị cáo Bùi Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen, BKS 36E1 – 127.11.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng truy tố. Cáo trạng mô tả hành vi phạm tội của các bị cáo là phù hợp với diễn biến sự việc.
Tại phần tranh luận các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng các bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ;
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên Cơ quan điều tra công an huyện T, Điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên toà các bị cáo đã nhận tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với diễn biến, thời gian, địa điểm; biên bản khám xét, vật chứng thu giữ, kết quả giám định chất ma túy bám dính; cùng với những tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chứng minhh hành vi phạm tội của các bị cáo như sau: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 29/3/2024, tại gian bếp của gia đình Bùi Minh Đ ở thôn Đ, xã T, huyện T, lực lượng chức năng đã kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Bùi Minh Đ, Bùi Văn T đang có hành vi tổ chức cho bản thân và các đối tượng Đinh Văn T2 và Lê Đức V sử dụng trái phép chất ma túy loại Methaphetamine. Vì vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 255 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của VKSND huyện Thạch Thành truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất vai trò của các bị cáo vụ án: Đây là vụ án hình sự rất nghiêm trọng, có tính chất đồng phạm giản đơn do Bùi Văn T và Bùi Minh Đ thực hiện. Trong đó, bị cáo T là người khởi xướng, trực tiếp đưa tiền, nhờ bị cáo Đ đi mua ma túy. Bị cáo Đ là thực hành tích cực cầm tiền trực tiếp đi mua ma túy, khi mua được ma túy về Đ là người trực tiếp lắp ráp dụng cụ sử dụng ma túy, trực tiếp pha chế, bỏ ma túy vào ống P và đốt lửa mời Đinh Văn T2 và Lê Đức V sử dụng nên Bùi Văn T và Bùi Minh Đ có vai trò như nhau nên hình phạt bằng nhau. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước mà còn trực tiếp xâm hại đến sức khỏe, nhân cách, đạo đức, lối sống con người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội trên địa bàn. Hội đồng xét xử xét thấy, cần xét xử các bị cáo một mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng và có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, ngoài ra bị cáo Đ và bị cáo T có ông bà là người có công với cách mạng, được tặng thưởng H2, Huy chương kháng chiến đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt chưa bị xét xử lần nào có nhiều tình tiết giảm nhẹ vì vậy HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, cải tạo sớm trở về đoàn tụ gia đình và trở thành người công dân có ích cho xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà nước.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xác minh về điều kiện tài sản xác định các bị cáo hiện không có tài sản và thu nhập đáng kể gì. Do đó không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo là phù hợp.
[6] Đối người đàn ông lạ mặt đã bán ma túy cho Bùi Minh Đ (không rõ tên, tuổi, địa chỉ). Đ khai chỉ biết người bán ma túy tên là “T5” nhưng không biết danh tính, địa chỉ cụ thể cũng không thể nhận dạng được các đặc điểm của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án là đúng quy định.
[7] Đối với số ma túy thu giữ tại bếp của Bùi Minh Đ có tổng khối lượng 0,138g (không phẩy một ba tám gam), loại Methaphetamine. Các đối tượng đều khai nhận sẽ cùng nhau sử dụng hết nếu không bị bắt quả tang. Mặt khác, hoạt động “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đang diễn ra, khối lượng ma túy còn lại ít, một số đối tượng còn chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang nên không có cơ sở xem xét, xử lý đối với hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điều 249 Bộ luật hình sự là đúng quy định.
[8] Đối với Đinh Văn T2 là người đã cho Bùi Văn T vay số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để chuyển khoản cho Bùi Minh Đ mua ma túy. Quá trình Bùi Văn T vay tiền của T2, T2 không biết mục đích T vay tiền để làm gì nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T không có cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Đinh Văn T2. Tuy nhiên, Đinh Văn T2 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã chuyển chuyển hồ sơ đến Công an huyện T ra Quyết định xử phạt hành chính đối với T2 là phù hợp với quy định của pháp luật.
[9] Đối với Lê Đức V là người được T, Đ tổ chức để sử dụng ma túy, không tham gia hoạt động nào trong quá trình tổ chức sử dụng ma túy nên không cấu thành tội phạm, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã chuyển chuyển hồ sơ đến Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Lê Đức V là phù hợp với quy định của pháp luật.
[10] Đối với Nguyễn Văn T3 là người có mặt tại nơi xảy ra vụ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng T3 không tham gia hoạt động gì, cũng không sử dụng trái phép chất ma túy nên không có căn cứ để xử lý T3 là đúng quy định của pháp luật.
[11] Đối với Cù Huy L1 là người được Bùi Minh Đ nhờ chuyển khoản 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để lấy tiền mặt. Tuy nhiên Cù Huy L1 không biết mục đích đổi tiền mặt của Bùi Minh Đ để đi mua ma túy nên không có cơ sở để xử lý L1 là đúng quy định của pháp luật.
[12] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:
- Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định bao gồm toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của hộp giấy catton và 0,114g (không phẩy một một bốn gam) các hạt tinh thể màu trắng là vật nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 chai nhựa màu trắng cao khoảng 20cm, có nắp nhựa màu trắng đục 02 lỗ nhỏ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu đen dài khoảng 07cm, lỗ còn lại gắn ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 13cm, một đầu gắn ống thủy tinh (dạng ống philatop) bị vỡ 01 (một) bật lửa ga màu đỏ; 01 thẻ sim số thuê bao 0383.049.288; 01 thẻ sim số thuê bao 0349.627.102 là vật liên quan đến hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh, nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A3 của Bùi Minh Đ; 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE XR của Bùi Văn T là hai chiếc điện thoại liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Trả lại cho bị cáo Bùi Minh Đ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu đen trắng, không có biển kiểm soát; Trả lại cho bị cáo Bùi Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen, BKS 36E1 – 127.11 là hai chiếc xe máy không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.
[13] Về án phí: Các bị cáo Bùi Minh Đ, Bùi Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Văn T, Bùi Minh Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
· Áp dụng: điểm b, khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS.
- Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn T 07 (B) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (29/3/2024).
- Xử phạt: Bị cáo Bùi Minh Đ 07 (B) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (29/3/2024).
- Áp dụng: điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016,
- Tịch thu tiêu hủy đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định bao gồm toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của hộp giấy catton và 0,114g (không phẩy một một bốn gam) các hạt tinh thể màu trắng; 01 chai nhựa màu trắng cao khoảng 20cm, có nắp nhựa màu trắng đục 02 lỗ nhỏ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu đen dài khoảng 07cm, lỗ còn lại gắn ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 13cm, một đầu gắn ống thủy tinh (dạng ống philatop) bị vỡ 01 (một) bật lửa ga màu đỏ; 01 thẻ sim số thuê bao 0383.049.288; 01 thẻ sim số thuê bao 0349.627.102.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước đối với: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh, nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY A3 của Bùi Minh Đ; 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu IPHONE XR của Bùi Văn T.
- Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST
- Trả lại cho bị cáo Bùi Minh Đ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu đen trắng, không có biển kiểm soát; Trả lại cho bị cáo Bùi Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen, BKS 36E1 – 127.11.
Hiện các vật chứng trên đang được quy trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/08/2024.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Văn Quân |
Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 68/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Toản cùng đồng phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy khoản 2 điều 255
