|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 68/2024/HS-ST Ngày: 02 – 05 – 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ PHỎ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Chiều
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải
2. Bà Nguyễn Thị Thanh
Thư ký Tòa án: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Bảo Anh - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 05 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 111/2023/TLST-HS ngày 27 tháng 07 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2023/HSST-QĐ ngày 31 tháng 8 năm 2023 đối với các bị cáo:
-
Hà Văn H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 28/06/2000 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Hà Văn N; Con bà: Dương Thị M; có vợ: Phùng Thị P, sinh năm 2001 (kết hôn tháng 4/2024); con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
-
Dương Văn H1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 04/04/1995 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm X, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Dương Văn T; Con bà: Nguyễn Thị B; có vợ: Dương Ánh H2, sinh năm 2003 (kết hôn tháng 11/2023), con: chưa có; Tiền án: 01, cụ thể: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 07/2022/HS-PT ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt Dương Văn H1 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp “Tái phạm”; Tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
-
Nguyễn Bá T1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 21/02/1994 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm H, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Chỗ ở: TDP Y, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông: Nguyễn Văn T2 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị H3; Vợ là Lưu Thị T3, sinh năm 1999 (kết hôn tháng 01/2024), con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
-
Lê Văn Q; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 05/11/1998 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm M, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Con ông: Lê Văn T4; Con bà: Nguyễn Thị T5; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo hiện đang bị truy nã theo quyết định truy nã số: 156/QĐTN-ĐCSHS ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
-
Nguyễn Việt H4; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 12/12/1994 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm H, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn H5; Con bà: Nguyễn Thị Đ; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
-
Lâm Văn V; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10/09/2003 tại Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm M, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông: Lâm Văn Đ1; Con bà: Lý Thị H6; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Quang L; sinh năm 1998; Nơi cư trú: Xóm L, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Lưu Trung H7; sinh năm 1994; Nơi cư trú: TDP H, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Hà Văn V1; sinh năm 1974; Nơi cư trú: TDP Y, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ ngày 02 tháng 3 năm 2023, tại quán bán quần áo 2T thuộc tổ dân phố Y, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên do Nguyễn Bá Tùng làm chủ, tổ công tác của Công an thành phố P phát hiện Nguyễn Bá T1, Hà Văn H, Lê Văn Q và Dương Văn H1 đang ngồi trên 01 chiếc chăn trải trên nền nhà ở giữa quán, bên trên chiếc chăn có 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài. Phát hiện tại vị trí ngồi của T1 có 50.000 đồng, tại vị trí ngồi của Q có 200.000 đồng, tại vị trí ngồi của H1 có 1.000.000 đồng, còn H tự nguyện lấy từ trong người ra 15.075.000 đồng. Tổ công tác tiếp tục kiểm tra phòng ngủ bên trong quán thì phát hiện Nguyễn Việt H4 và Lâm Văn V. Sau đó, V tự nguyện giao nộp 350.000 đồng V đang để trên người và H4 tự nguyện giao nộp 100.000 đồng H4 đang để trên người cho tổ công tác. Các đối tượng T1, H, Q, H1, V và H4 đều khai nhận đang đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền thì bị tổ công tác kiểm tra nên các đối tượng dừng lại không đánh bạc nữa.
Tổ công tác Công an thành phố P đã tiến hành lập Biên bản sự việc, thu giữ, niêm phong vật chứng gồm: 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài, 01 chiếc chăn nhiều màu sắc và 16.775.000 đồng. Ngoài ra, tại địa điểm đánh bạc còn có anh Nguyễn Quang L (sinh năm 1998, trú tại xóm L, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên) và anh Lưu Trung H7 (sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố H, phường H, thành phố P) ở đó nhưng không tham gia đánh bạc.
Quá trình điều tra, Nguyễn Bá T1, Hà Văn H, Lê Văn Q, Dương Văn H1, Nguyễn Việt H4, Lâm Văn V khai nhận: Buổi tối ngày 01 tháng 3 năm 2023, Nguyễn Quang L và Lê Văn Q cùng đi đến cửa hàng quần áo 2T do Nguyễn Bá T1 làm chủ, thuộc tổ dân phố Y, phường H, thành phố P, trên đường đi Q có hỏi mượn L số tiền 1.000.000đ và được L đồng ý, khi mượn tiền của L thì Q không nói cho L biết mượn số tiền này để làm gì, khi L và Q đến quán cửa hàng quần áo 2T của Nguyễn Bá T1 thì gặp các đối tượng Hà Văn H, Dương Văn H1, Nguyễn Việt H4, Lâm Văn V, Nguyễn Bá T1 và Lưu Trung H7 có mặt tại cửa hàng quần áo 2T, ban đầu các đối tượng ngồi chơi tại quán. Sau đó, H, Q, H1, H4, V, T1 rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền, L và H7 không chơi mà chỉ nằm trên ghế để xem và nghịch điện thoại. Các đối tượng sử dụng bộ bài do V mang đến từ trước để đánh bạc. Về hình thức đánh “Liêng” được các đối tượng quy ước như sau: Các đối tượng sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài để chơi. Mỗi người được chia 03 quân bài, các đối tượng đặt cược sau đó lật bài để phân định thắng thua. Về cách tính thắng thua thì bài cao nhất là “Sáp” gồm 03 quân giống nhau; cao thứ hai là “Liêng” gồm 03 quân liên tục; cao thứ ba là “Anh” gồm 03 quân đầu người, cuối cùng là điểm, cao nhất là 09 điểm, thấp nhất là 0 điểm. Mỗi ván cược thấp nhất là 50.000 đồng, cao nhất là 300.000 đồng.
Khi tham gia đánh bạc, T1 khai T1 có 1.000.000 đồng, H4 hỏi vay tiền T1 để đánh bạc và T1 cho H4 vay 300.000 đồng nên T1 còn 700.000 đồng để đánh bạc, khi bị phát hiện, T1 đang thua và còn 50.000 đồng để trên chiếu bạc. H4 khai H4 vay T1 300.000 đồng để đánh bạc và thua hết tiền. H1 khai H1 sử dụng 6.800.000 đồng để đánh bạc, khi bị phát hiện, H1 đang thua và còn 1.000.000 đồng để trên chiếu bạc. Q khai Quang sử dụng 1.400.000 đồng để đánh bạc, khi bị phát hiện, Q đang thua và còn 200.000 đồng để trên chiếu bạc. V khai V sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc, khi bị phát hiện, V đang thua và còn 350.000 đồng. H khai trước khi đánh bạc, H có 7.075.000 đồng, H bỏ ra 3.000.000 đồng để đánh bạc, còn 4.075.000 đồng H cất trong người, nếu thua hết 3.000.000 đồng thì H sẽ sử dụng tiếp số tiền 4.075.000 đồng để đánh bạc, khi bị phát hiện H đang thắng và có 11.000.000 đồng. Trước khi bị tổ công tác kiểm tra thì H4 thua hết tiền và đi vào nhà vệ sinh để hút thuốc, V cũng cầm số tiền 350.000 đồng đi vào nhà vệ sinh để đi vệ sinh. Khi tổ công tác vào kiểm tra thì H4 và V hoảng sợ nên không dám ra ngoài. Sau đó, H4 và V lên giường trong phòng ngủ gần đó nằm. Còn T1, H1, Q, H vẫn ngồi trên chiếu bạc, T1, H1, Q vẫn để tiền trước mặt dưới chiếu bạc. H cầm toàn bộ số tiền 11.000.000 đồng trước mặt cho vào túi áo cùng với số tiền 4.075.000 đồng H để trong túi áo trước đó thì bị tổ công tác phát hiện, lập biên bản sự việc như đã nêu trên. Ngoài ra H4 còn khai số tiền 100.000 đồng H4 giao nộp cho tổ công tác là tiền riêng của H4, H4 dùng để đổ xăng xe và không sử dụng số tiền trên vào việc đánh bạc.
Các đối tượng tham gia đánh bạc đều xác nhận tổng số tiền 16.675.000 đồng mà tổ công tác thu giữ là số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc. Đối với anh Nguyễn Quang L và anh Lưu Trung H7 chỉ ngồi xem các đối tượng đánh bạc và không tham gia đánh bạc cùng các đối tượng.
Ngày 22 tháng 3 năm 2023 Công an thành phố P đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số: 156/QĐ trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T giám định tiền đựng trong phong bì ký hiệu T là tiền giả hay tiền thật.
Tại bản kết luận giám định số: 536/KL-KTHS ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận “Số tiền gửi giám định trong phong bì ký hiệu T là tiền thật”.
Lời khai nhận của Nguyễn Bá T1, Hà Văn H, Lê Văn Q, Dương Văn H1, Nguyễn Việt H4, Lâm Văn V phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu B; 01 chăn nhiều màu sắc và 16.775.000 đồng tiền Ngân hàng N1 được chuyển đến tài khoản và kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.
Do có hành vi nêu trên nên tại bản Cáo trạng số: 125/CT-VKSPY ngày 25 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố các bị cáo Hà Văn H, Dương Văn H1, Nguyễn Bá T1, Lê Văn Q, Nguyễn Việt H4, Lâm Văn V về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần thẩm vấn công khai, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hà Văn H, Dương Văn H1, Nguyễn Bá T1, Lê Văn Q, Nguyễn Việt H4, Lâm Văn V phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt
- Về hình phạt chính:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56; Điều 58; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Dương Văn H1
Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Văn H1 mức án từ 08 đến 11 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Chuyển hình phạt 07 (Bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 07/2022/HS-PT ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thành 07 tháng tù giam. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Dương Văn H1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 15 đến 18 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Lê Văn Q (đối tượng đang trốn truy nã) .
Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn Q mức án từ 08 đến 11 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Hà Văn H, Nguyễn Bá T1, Nguyễn Việt H4 và Lâm Văn V
Đề nghị xử phạt:
- + Bị cáo Hà Văn H mức án từ 08 đến 11 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 22 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Bị cáo Nguyễn Bá T1 mức án từ 07 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Bị cáo Nguyễn Việt H4 mức án từ 07 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- + Bị cáo Lâm Văn V mức án từ 07 đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 đến 20 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Hà Văn H, Nguyễn Bá T1, Nguyễn Việt H4, Lâm Văn V cho Ủy ban nhân dân xã, phường nơi các bị cáo cư trú quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56; Điều 58; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Dương Văn H1
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Phạt tiền các bị cáo Nguyễn Bá T1, Hà Văn H, Lê Văn Q, Dương Văn H1, Nguyễn Việt H4, Lâm Văn V mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng nộp Ngân sách Nhà nước.
- Về hình phạt chính:
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài được niêm phong trong bì niêm phong ký hiệu B; 01 chăn nhiều màu sắc
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền: 16.675.000 đồng tiền Ngân hàng N1 là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Việt H4 số tiền 100.000 đồng tiền Ngân hàng N1 tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí và quyền kháng cáo: đề nghị áp dụng Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ -UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Hà Văn H, Dương Văn H1, Nguyễn Bá T1, Nguyễn Việt H4, Lê Văn Q và Lâm Văn V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước; Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo theo quy định.
Trong phần tranh luận, các bị cáo Hà Văn H, Nguyễn Bá T1, Dương Văn H1, Nguyễn Việt H4, Lâm Văn V không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Đối với bị cáo Lê Văn Q hiện đang bị truy nã nên không tranh luận.
Lời nói sau cùng các bị cáo Hà Văn H, Nguyễn Bá T1, Dương Văn H1, Nguyễn Việt H4, Lâm Văn V xin được hưởng mức án thấp nhất, xin được cải tạo tại địa phương để làm người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố:
Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về sự vắng mặt của những người người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
Tại phiên tòa vắng mặt bị cáo Lê Văn Q, người làm chứng, người chứng kiến trong vụ án, Tòa án nhận định như sau: Đối với bị cáo Lê Văn Q, quá trình giải quyết vụ án, ngày 31 tháng 8 năm 2023 Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên đã ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 131/2023/QĐXXST- HS và tiến hành triệu tập, tống đạt văn bản tố tụng trên cho Q. Tuy nhiên, Lê Văn Q không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, mặt khác quá trình xác minh tại chính quyền địa phương là UBND xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên ngày 10 tháng 11 năm 2023 xác định: “Bị cáo Lê Văn Q hiện không có mặt tại nơi cư trú, Q đi đâu, làm gì không rõ. Ngoài ra, người nhà và bố, mẹ của Q hiện không có mặt tại địa phương do phải đi làm ăn xa. Chính quyền địa phương hiện không liên lạc được với Q cũng như bố, mẹ Q” và tiến hành niêm yết công khai văn bản tố tụng trên tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã nơi Q cư trú theo quy định.
Tại Công văn số: 01/CV-TA ngày 21 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên đã yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P truy nã đối với bị cáo Lê Văn Q, sau đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã ban hành quyết định truy nã số: 156/QĐTN-ĐCSHS ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Thái Nguyên đối với Lê Văn Q theo quy định. Tại Công văn số 287/CV-CAPY ngày 23 tháng 02 năm 2024 của Công an thành phố P xác định “Quá trình truy nã đối tượng từ ngày 17/01/2024 đến nay Công an thành phố Phổ Yên chưa truy bắt được đối tượng”.
Do đó, căn cứ vào ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa; Căn cứ Điều 290, Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 2, Điều 9 Thông tư liên tịch số: 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSTC-TANDTC ngày 09 tháng 10 năm 2012 của Bộ C – Bộ Tư pháp – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao Tòa án nhân dân Tối cao về Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật thi hành án hình sự về truy nã, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo Lê Văn Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng, người chứng kiến theo quy định.
[3]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án, như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường và lời khai của những người tham gia tố tụng khác. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Do hám lợi nên trong khoảng thời gian từ 23 giờ ngày 01 tháng 03 năm 2023 đến 00 giờ 30 phút ngày 02 tháng 03 năm 2023, tại cửa hàng bán quần áo 2T thuộc tổ dân phố Y, phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên do Nguyễn Bá T1 làm chủ; Hà Văn H, Dương Văn H1, Nguyễn Bá T1, Nguyễn Việt H4, Lê Văn Q và Lâm Văn V đã có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền thì bị phát hiện xử lý. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 16.675.000đ.
Tại bản kết luận giám định số: 536/KL-KTHS ngày 30 tháng 3 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh T đã kết luận: Số tiền gửi giám định trong phong bì “T” là tiền thật.
Hành vi, ý thức của các bị cáo Hà Văn H, Dương Văn H1, Nguyễn Bá T1, Lê Văn Q, Nguyễn Việt H4, Lâm Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Do đó, bản Cáo trạng số: 125/CT-VKSPY ngày 25 tháng 07 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố đối với các bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan.
Nội dung khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:
“Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật giá trị từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.....”
[4]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy:
Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do các bị cáo hám lời, không chịu lao động, tu dưỡng, rèn luyện, muốn kiếm tiền một cách bất chính nên dẫn các bị cáo đến việc phạm tội như đã nêu ở trên.
[5]. Xét các yếu tố về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy:
5.1. Về nhân thân:
- - Quá trình sinh sống tại địa phương các bị cáo Hà Văn H, Nguyễn Bá T1, Lê Văn Q, Nguyễn Việt H4, Lâm Văn V chưa có tiền án, tiền sự là người có nhân thân tốt.
- - Đối với bị cáo Dương Văn H1, quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo đã có 01 tiền án, cụ thể: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 07/2022/HS-PT ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã xử phạt Dương Văn H1 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm”. Do đó bị cáo là người có nhân thân xấu.
5.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Hội đồng xét xử thấy các bị cáo Hà Văn H, Nguyễn Bá T1, Nguyễn Việt H4, Lê Văn Q, Lâm Văn V là người phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên có căn cứ cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Dương Văn H1, bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
5.3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Nguyễn Bá T1, Hà Văn H, Nguyễn Việt H4, Lê Văn Q, Lâm Văn V không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Dương Văn H1 phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đó là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự do bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích theo quy định.
5.4. Xét vai trò các bị cáo trong vụ án thì thấy:
Các bị cáo Hà Văn H, Dương Văn H1, Nguyễn Bá T1, Nguyễn Việt H4, Lê Văn Q và Lâm Văn V cố ý cùng thực hiện một tội phạm nên là đồng phạm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự, nhưng là đồng phạm giản đơn, bởi hành vi của các bị cáo là bột phát, không có sự câu kết chặt chẽ với nhau giữa những người thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, để đảm bảo phân hóa trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo trong vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo Dương Văn H1 và Hà Văn H sử dụng số tiền đánh bạc nhiều nhất, tham gia đánh bạc tích cực từ đầu cho đến khi bị bắt nên các bị cáo có vai trò cao hơn các bị cáo khác trong vụ án
Đối với các bị cáo Nguyễn Bá T1, Nguyễn Việt H4, Lê Văn Q, Lâm Văn V đều đánh bạc tích cực cho đến khi bị phát hiện, do đó các bị cáo T1, H4, Q, V giữ vai trò ngang nhau trong vụ án sau bị cáo H và H1.
[6]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, vai trò của các bị cáo trong vụ án khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Đối với các bị cáo Nguyễn Bá T1, Hà Văn H, Nguyễn Việt H4 và Lâm Văn V là người chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà đều thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, các bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được cải tạo tại địa phương không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn, xã hội tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận lời thỉnh cầu của các bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số: 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết: 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết: 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự ngày 23 tháng 3 năm 2022 cho các bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ điều kiện giáo dục các bị cáo thành công dân tốt và có ích cho xã hội.
Đối với bị cáo Lê Văn Q, mặc dù bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào tuy nhiên bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật kém, bởi bị cáo không chấp hành đúng nghĩa vụ của bị cáo khi được tại ngoại tại địa phương, bị cáo có hành vi bỏ trốn và đã bị cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định truy nã toàn quốc. Do đó cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, răn đe đối với bị cáo
Đối với bị cáo Dương Văn H1, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm”, đối chiếu với quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số: 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết: 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự ngày 23 tháng 3 năm 2022 thì bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định nên cần buộc bị cáo cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Mặt khác, bị cáo phạm tội khi chưa chấp hành xong hình phạt án treo tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 07/2022/HS-PT ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên (Tại bản án này Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên đã xử phạt Dương Văn H1 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”). Do đó, căn cứ vào khoản 5 Điều 65 và Điều 56 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần chuyển hình phạt 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 07/2022/HS-PT ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thành 07 tháng tù giam và tổng hợp hình phạt lần này đối với bị cáo theo quy định.
Xét thấy, mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa đối với các bị cáo xét thấy là phù hợp được chấp nhận.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định: “3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Xét thấy, các bị cáo phạm tội nhằm mục đích vụ lợi nên ngoài hình phạt chính cần thiết phải áp dụng thêm hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo để nộp Ngân sách Nhà nước.
[8]. Về biện pháp tư pháp:
- - Đối với các vật chứng là: 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài được niêm phong trong phong bì ký hiệu B và 01 chăn nhiều màu sắc - Xác định là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc tội phạm, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với số tiền: 16.675.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc – Xác định là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc tội phạm cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- - Đối với số tiền 100.000 đồng thu trên người của Nguyễn Việt H4 quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định bị cáo không sử dụng vào việc đánh bạc, Hội đồng xét xử nhận thấy cần trả lại cho bị cáo, xong do bị cáo còn phải chấp hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Do vậy cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[9]. Về chi phí tố tụng: Các bị cáo Hà Văn H, Dương Văn H1, Nguyễn Bá T1, Nguyễn Việt H4, Lê Văn Q và Lâm Văn V bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[10]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 17, Điều 46, Điều 47, Điều 48; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Hà Văn H, Nguyễn Bá T1, Nguyễn Việt H4 và Lâm Văn V;
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 17, Điều 38, Điều 46, Điều 47, Điều 48; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, Điều 58, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Dương Văn H1;
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 17, Điều 38, Điều 46, Điều 47, Điều 48; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Lê Văn Q;
Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 123, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số: 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
Căn cứ Nghị quyết số: 01/2022/NQ - HĐTP ngày 23 tháng 3 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết: 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Thông tư liên tịch số: 13/2012/TTLT-BCA-BTP-VKSTC-TANDTC ngày 09 tháng 10 năm 2012 của Bộ C – Bộ Tư pháp – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao Tòa án nhân dân Tối cao về Hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật thi hành án hình sự về truy nã;
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hà Văn H, Dương Văn H1, Nguyễn Bá T1, Nguyễn Việt H4, Lê Văn Q và Lâm Văn V phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
- Về hình phạt chính:
- Xử phạt bị cáo Dương Văn H1 08 (T6) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Chuyển hình phạt 07 (Bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 07/2022/HS-PT ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thành 07 (Bẩy) tháng tù giam. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Dương Văn H1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Dương Văn H1 trong thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn Q 08 (T6) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Hà Văn H 08 (T6) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Bá T1 07 (Bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H4 07 (Bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Lâm Văn V 07 (Bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Hà Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Việt H4 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Bá T1 cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Lâm Văn V cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo
- Xử phạt bị cáo Dương Văn H1 08 (T6) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Chuyển hình phạt 07 (Bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 07/2022/HS-PT ngày 20/01/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên thành 07 (Bẩy) tháng tù giam. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Dương Văn H1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung các bị cáo Hà Văn H, Dương Văn H1, Nguyễn Bá T1, Nguyễn Việt H4, Lê Văn Q và Lâm Văn V mỗi bị cáo số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước.
- Về hình phạt chính:
- Về biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài được niêm phong trong phong bì ký hiệu B và 01 chăn nhiều màu sắc.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 16.675.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.
- - Trả lại số tiền 100.000 đồng tạm giữ trên người của bị cáo Nguyễn Việt H4, tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
(Hiện số vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Phổ Yên theo biên bản giao nhận ngày 08/08/2023 và Ủy nhiệm chi số 261 ngày 09 tháng 08 năm 2023).
- Về chi phí tố tụng: Buộc các bị cáo Hà Văn H, Dương Văn H1, Nguyễn Bá T1, Nguyễn Việt H4, Lê Văn Q và Lâm Văn V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Hà Văn H, Dương Văn H1, Nguyễn Bá T1, Nguyễn Việt H4, Lâm Văn V có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án
Bị cáo Lê Văn Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hải Chiều |
Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 68/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Bá T phạm tội Đánh bạc
