Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 68/2024/HS-ST

Ngày 20/6/2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kao Hoàng

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà: Đặng Thị Sinh

2. Ông: Trần Quang Huyền

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt - Kiểm sát viên

Trong ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đã thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 05 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Dương Tiến D, sinh ngày: 09/9/1989.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ H, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi tạm trú và nơi ở hiện tại: Tổ B, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hoá: 11/12; Nghề nghiệp: Không.

Con ông: Dương Văn B (đã chết); Con bà: Hà Thị T, sinh năm: 1966.

Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 3.

Vợ: Vũ Nguyễn Nguyên A, sinh năm 1996.

Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

  • + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 102 ngày 01/4/2014 của Công an thành phố T xử phạt 750.000đ về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.
  • + Tại Quyết định số: 002708 ngày 05/5/2016 của Công an thành phố T xử phạt 2.500.000đ về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”.
  • + Tại Quyết định số: 0029711 ngày 01/11/2019 của Công an huyện V xử phạt 200.000đ về hành vi “Xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác”.
  • + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 0060961 ngày 05/8/2020 của Công an thành phố T xử phạt 2.500.000đ về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”.
  • + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 0010169 ngày 19/05/2023 của Công an thành phố T xử phạt 6.500.000đ về hành vi “Cố ý gây thương tích” nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
  • + Tại Bản án số: 384 ngày 03/10/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 03 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. (Bản án đã được xóa án tích).
  • + Ngày 31/10/2023 bị Cơ quan CSĐT, Công an tỉnh T khởi tố bị can về tội “Đánh bạc”.

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/4/2024 đến nay. (Có mặt tại phiên tòa)

*. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh: Lê Đăng H, sinh năm 1980 (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Bà: Trần Thị H1, sinh năm 1956 (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Xóm H, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Ông: Trần Văn H2, sinh năm 1958 (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Anh: Trần Văn H3, sinh năm 1986 (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Anh: Hoàng Văn H4, sinh năm 1987 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm A, xã Q, TP ., tỉnh Thái Nguyên.

*. Người làm chứng:

  1. Anh: Nguyễn Văn Q, sinh năm 1984 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Anh: Trần Văn S, sinh năm 1994 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Chị: Nguyễn Thị T1, sinh năm1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: TDP G, phường Đ, TP, Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Chị: Trần Thị N, sinh năm 1987 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ A, phường Q, TP ., tỉnh Thái Nguyên.

  1. Bà: Nguyễn Thị H5, sinh năm 1964 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm V, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Bà: Đặng Thị D1, sinh năm 1964 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Ông: Đào Xuân A, sinh năm 1957 (Vắng mặt)
  2. Chị: Nguyễn Thị V, sinh năm 1983(Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tháng 6 năm 2022, Bùi Tuấn A1, sinh năm 1993, trú tại xóm Đ, xã H, huyện Đ đến Cơ sở kinh doanh Hoàng P do anh Hoàng Văn H4, sinh năm 1987, trú tại xóm A, xã Q, thành phố T làm chủ để vay 10.000.000 đồng với lãi suất 2.700 đồng/ 1.000.000 đồng/ngày của một người đàn ông không rõ họ tên tại Cơ sở kinh doanh H7. Sau khi vay tiền Tuấn A1 không trả tiền lãi theo thỏa thuận nên từ tháng 12/2022 Dương Tiến D nhiều lần gọi điện cho mẹ của Tuấn A1 là bà Trần Thị H1, sinh năm 1956 đề nghị bà H1 trả tiền thay cho Tuấn A1.

Khoảng 13 giờ 44 phút ngày 11/01/2023 bà H1 đến nhà anh Lê Đăng H, sinh năm 1980, trú tại xóm H, xã H, huyện Đ chơi thì D gọi điện thoại để nhắc nợ. Bà H1 có nói với anh H là D gọi điện đòi nợ thì anh H dùng điện thoại của bà H1 gọi điện nói chuyện với D và hẹn D đến nhà bà H1 để trả tiền. Khoảng 14 giờ 50 phút cùng ngày, D điều khiển xe ô tô BKS 20A-01119 (là xe của anh Hoàng Văn H4) trên xe ô tô có 06 con dao tự chế (có cán bằng gỗ, lưỡi dao bằng kim loại, dài khoảng 01m của D mua từ trước và để trên ô tô) đi cùng với 03 nam thanh niên là bạn của D (D khai tên là C, Đ và một nam giới D không biết tên đi cùng với C và Đ, D không biết rõ họ tên và địa chỉcủa 3 người này) đến nhà bà H1 và đỗ xe ô tô ở rìa đường QL 37 phía trước nhà bà H1, thấy D đến, bà H1 gọi điện thoại cho anh H thì anh H đi đến gặp nhóm của D để nói chuyện và được D cho biết Tuấn A1 còn nợ 10.000.000 đồng và tiền lãi là 3.240.000 đồng. Anh H bảo nhóm của D đợi để anh H về nhà lấy tiền trả cho D. Khoảng 10 phút sau thì anh H quay lại và nói với D là không lấy được tiền và bảo D đưa giấy vay tiền của Tuấn A1 và hẹn D 3 ngày sau quay lại để lấy tiền. D cho rằng anh H lừa mình nên bức xúc rồi dùng tay đấm vào mặt anh H, lúc này nhóm 03 thanh niên đi cùng cũng dùng chân, tay đấm, đá vào người anh H làm anh H bị ngã ra trước cửa nhà bà H1 (rìa đường Q). Thấy đánh nhau, ông Trần Văn H2, sinh năm 1958, trú tại xóm Đ, xã H chạy đến can ngăn thì D và 01 người nam giới cùng nhóm với D chạy ra xe ô tô lấy 02 con dao tự chế dạng kiếm lao vào chém ông H2, ông H2 nhặt được 01 đoạn gậy bằng tre giơ lên để đỡ thì bị dao chém trúng cây tre và trúng vào vùng ngực của ông H2 làm ông H2 ngã ra giữa đường Q. Thấy ông H2 bị chém, bà H1 la hét thì anh Trần Văn H3, sinh năm 1986 (là con trai của ông H2) cầm theo 01 đoạn kim loại (là dụng cụ sửa xe dài 37cm) chạy đến để can ngăn thì thấy D và nam thanh niên mặc áo phông cộc tay đang vung dao chém ông H2 nên anh H3 đẩy D ra thì D và nam thanh niên này không đánh ông H2 nữa mà dùng dao chém anh H3. Anh H3 dùng thanh kim loại đỡ nhưng vẫn bị chém trúng vào bắp tay phải và đùi trái, lúc này anh H3 lấy được 01 con dao tự chế do nhóm của D mang đến nên vung dao chém hai nhát về phía D, trúng vào người của D làm D bị thương, sau đó D vứt con dao đang cầm ở tay ra đường rồi đi bộ vào lề đường bên trái chiều Thái Nguyên - Tuyên Quang và nằm ngã tại đây. Thấy D bị chém thì người nam giới mặc áo phông cộc tay (đi cùng D) chạy đến xe ô tô lấy 01 con dao tự chế thì ông H2 chạy

đến can ngăn thì bị nam thanh niên dùng dao chém 01 nhát vào vùng lưng ông H2 rồi cầm 02 con dao bỏ chạy theo hướng Thái Nguyên. Hai nam giới đi cùng nhóm của D bỏ chạy theo hướng Tuyên Quang thì sự việc kết thúc. Sự việc các đối tượng đuổi, đánh chém nhau ở giữa đường QL 37 đoạn trước cửa nhà bà H1 là khu vực có nhiều hộ dân sinh sống, làm gián đoạn việc lưu thông bình thường của người và các phương tiện tham gia giao thông (các phương tiện tham gia giao thông đều phải dừng lại ở cả hai chiều, không lưu thông được).

Thấy sự việc xảy ra làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, người dân xung quanh khu vực đã báo sự việc đến Công an xã H và gọi xe cứu thương đưa D đi bệnh viện cấp cứu. Nhận được tin báo, Công an xã H đã có mặt bảo vệ hiện trường và báo cáo sự việc đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ để xác minh, giải quyết theo quy định của pháp luật.

Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ đã tiến hành khám nghiệm hiện trường thu giữ 02 con dao, loại dao tự chế, 01 thanh kim loại, 01 đoạn gậy tre và một số vật chứng khác có liên quan.

Sau khi sự việc xảy ra, ngày 12/01/2023, chị Vũ Nguyễn Nguyên A, sinh năm 1996, HKTT: Xóm B, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (là vợ của Dương Tiến D) nộp Đơn trình báo về việc D bị đánh gây thương tích ngày 11/01/2023, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ xác minh làm rõ việc D bị đánh gây thương tích và xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/01/2023, ông Trần Văn H2 và anh Trần Văn H3 đều có đơn Đề nghị khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với các đối tượng có hành vi gây thương tích cho ông H2 và anh H3.

Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ đã tiến hành trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể và cơ chế hình thành vết thương của ông H2, anh H3, anh H và của Dương Tiến D.

Tại Bản Kết luận giám định số 52/TgT ngày 14/01/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận đối với anh Trần Văn H3, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 02%. Cơ chế hình thành vết thương: Do tác động của vật có cạnh sắc.

Tại Bản Kết luận giám định số 53/TgT ngày 14/01/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận đối với anh Lê Đăng H, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 0%.Cơ chế hình thành vết thương: Do tác động của vật tày.

Tại Bản Kết luận giám định số 54/TgT ngày 14/01/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận đối với ông Trần Văn H2, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 3%.Cơ chế hình thành vết thương: Do tác động của vật có cạnh sắc.

Tại Bản Kết luận giám định số 55/TgT ngày 16/01/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận đối với Dương Tiến D, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 9%. Cơ chế hình thành vết thương: Do tác động của vật tày, vật có cạnh sắc.

Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 406/KLTTCT-GĐTH ngày 22/5/2023 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế tỉnh Y kết luận, tỷ lệ tổn thương cơ thể của Dương Tiến D tại thời điểm giám định là 09%.

Vật chứng của vụ án gồm:

  • + 01 gói niêm phong ký hiệu D1 bên trong có 01 con dao dài 81,5cm; 01 con dao dài 106,2cm.
  • + Túi niêm phong ký hiệu NS2 2111911 bên trong có 01 thanh kim loại dài 37cm, đường kính 0,5cm.
  • + 02 bì niêm phong ký hiệu MM1 và MM2 bên trong đựng vật chất màu nâu đỏ.
  • + 01 bì niêm phong ký hiệu GT, bên trong là 01 đoạn cây tre, màu xám, dài 2,715m, chu vi 14,5cm.
  • + 01 túi niêm phong ký hiệu NS2 2111917, bên trong là 01 áo sơ mi cộc tay màu tím.
  • + 01 túi niêm phong ký hiệu NS2 2111909, bên trong có 01 áo phông cộc tay màu trắng, 01 quần dài màu xám.

Hiện đang tạm giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ chờ xử lý.

Đối với vật chứng là xe ô tô BKS 20A-01119, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định là tài sản của anh Hoàng Văn H4 nên đã trả lại cho anh H4 quản lý, sử dụng.

Đối với những vật chứng tạm giữ trên xe ô tô (được niêm phong ký hiệu N1) và các vật chứng tạm giữ khi khám xét nhà D (niêm phong ký hiệu KX1, KX2, KX3) không liên quan đến vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Đ đã tách các vật chứng này ra khỏi vụ án và tiếp tục xác minh xử lý theo quy định của pháp luật.

Về phần dân sự các bên liên quan không có yêu cầu đề nghị gì.

Bản cáo trạng số 50/CT-VKSĐT ngày 14/4/2024 của Viện kiểm sát nhân huyện Đ đã truy tố bị cáo Dương Tiến D phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS.

Kết thúc phần tranh tụng, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng, đã luận tội đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Dương Tiến D phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Xử phạt: Bị cáo Dương Tiến D từ 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về phần dân sự các bên liên quan không có yêu cầu đề nghị gì nên không xem xét.

Về vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ký hiệu D1 bên trong có 01 con dao dài 81,5cm; 01 con dao dài 106,2cm; 01 thanh kim loại dài 37cm, đường kính 0,5cm được niêm phong trong phong bì ký hiệu NS2 211911; chất màu nâu đỏ được niêm phong vào 02 phong bì ký hiệu MM1 và MM2; 01 đoạn cây tre, màu xám dài 2,715m, chu vi 14,5cm được niêm phong trong bì ký hiệu GT; 01 áo sơ mi cộc tay màu tím được niêm phong trong túi ký hiệu NS2 2221917; 01 áo phông cộc tay màu trắng, 01 quần dài màu xám ký hiệu trong túi niêm phong ký hiệu NS22111909.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định nộp ngân sách Nhà nước.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận việc truy tố và xét xử là đúng người, đúng tội, không oan sai. Bị cáo không có tranh luận gì, bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của những người liên quan, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản sự việc, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, lời khai người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận giám định.

Hội đồng xét xử có thể kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 11/01/2023 trên đường Quốc lộ 37 đoạn thuộc xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (phía trước cửa nhà bà Trần Thị H1) khu vực có nhiều hộ dân sinh sống. Dương Tiến D và 03 nam thanh niên (không xác định được tên, địa chỉ cụ thể) đã thực hiện hành vi dùng tay chân đấm, đá anh Lê Đăng H làm anh H ngã ra đất. Sau đó ông Nguyễn Văn H6 đến can ngăn thì bị D và nam thanh niên mặc áo phông cộc tay (trong nhóm đi cùng D) dùng dao, loại dao tự chế, có lưỡi bằng kim loại đuổi chém ông H6, làm ông H6 bị ngã ra giữa đường Q và bị thương tích tổn hại 03% sức khỏe. Thấy ông H6 bị đuổi chém, anh Trần Văn H3 (con trai của ông H6) chạy đến đẩy D và nam thanh niên kia ra thì bị D và nam thanh niên này dùng dao chém vào bắp tay phải và đùi trái của anh H3 làm anh H3 bị thương tổn hại 02% sức

khỏe. Do bị D và nam thanh niên chém, anh H3 nhặt được 01 con dao loại dao tự chế, có lưỡi bằng kim loại chém 02 phát trúng vào người D làm D bị thương tích tổn hại 09% sức khỏe. Sự việc đuổi đánh chém nhau của D và một số nam giới đi cùng D diễn ra trên đường Q, khu vực đông dân cư sinh sống làm gián đoạn việc lưu thông bình thường của người và các phương tiện tham gia giao thông trên Quốc lộ C đoạn trước của nhà bà H1 thuộc xóm Đ, xã H, huyện Đ (các phương tiện tham gia giao thông đều phải dừng lại ở cả hai chiều). Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội nên người dân đã trình báo Công an xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực pháp luật. Như vậy, hành vi của bị cáo Dương Tiến D nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Gây rối trật tự công cộng” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Nội dung điều luật quy định như sau:

Điều 318 Bộ luật hình sự:

“1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội.....thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

b) Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách”.

[3]. Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định về trật tự công cộng được pháp luật và nhà nước bảo hộ, gây náo động trật tự công cộng, xâm phạm đến an toàn công cộng. Hành vi của bị cáo còn tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, thể hiện ý thức xem thường pháp luật. Khi lượng hình hội đồng xét xử cần cân nhắc để có mức án phù hợp tương xứng với hành vi phạm tội, đảm bảo trong công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.

[4]. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5]. Xét tình tiết tiết giảm nhẹ TNHS thì thấy: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Ngoài ra bị cáo có ông nội là Dương Văn Đ1 là liệt sỹ nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

[6]. Xét nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị xử phạt tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; đã bị xử phạt hành chính liên quan đến hành vi gây rối trật tự công cộng và xâm phạm sức khỏe, danh dự của người khác nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội, mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội thể hiện lỗi cố ý trực tiếp nên cần phải có hình phạt

phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

Về phần dân sự các bên liên quan không có yêu cầu đề nghị gì nên HĐXX không xem xét.

[7]. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo mức án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, như vậy mới đủ để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời mang tính phòng ngừa chung là phù hợp.

[8]. Về vật chứng của vụ án: 01 gói niêm phong ký hiệu D1 bên trong có 01 con dao dài 81,5cm; 01 con dao dài 106,2cm; 01 thanh kim loại dài 37cm, đường kính 0,5cm được niêm phong trong phong bì ký hiệu NS2 211911; chất màu nâu đỏ được niêm phong vào 02 phong bì ký hiệu MM1 và MM2; 01 đoạn cây tre, màu xám dài 2,715m, chu vi 14,5cm được niêm phong trong bì ký hiệu GT; 01 áo sơ mi cộc tay màu tím được niêm phong trong túi ký hiệu NS2 2221917; 01 áo phông cộc tay màu trắng, 01 quần dài màu xám ký hiệu trong túi niêm phong ký hiệu NS22111909 là vật chứng liên quan đến vụ án không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

[9]. Liên quan đến vụ án có anh H3 có hành vi chém gây tổn hại 9% sức khỏe của D. Quá trình điều tra xác định hành vi của anh H3 thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý với anh H3 về hành vi gây rối trật tự công cộng. Đối với hành vi gây thương tích, quá trình điều tra ông H6, anh H3, bị cáo D đã tự thỏa thuận với nhau đồng thời có đơn xin rút yêu cầu khởi tố nên Cơ quan CSĐT, Công an huyện Đ đã ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án đối với hành vi gây thương tích.

Đối với chiếu xe ôtô BKS 20A-011.19 là tài sản của anh Hoàng Văn H4, khi D mượn xe của anh H4 thì anh H4 không biết D điều khiển xe đi đâu làm gì, do vậy không có căn cứ để xem xét xử lý với anh H4.

Đối với 03 thanh niên đi cùng D trên ôtô và có hành vi đánh nhau, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ của 03 thanh niên này nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Đối với hành vi cho vay nặng lãi, quá trình điều tra không chứng minh được người cho Tuấn A1 vay tiền, Tuấn A1 mới trả được 01 tháng tiền lãi với lãi xuất 2.700đ/ngày, do vậy không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với hành vi cho vay nặng lãi.

Đối với hành vi của D và các thanh niên đi cùng D đến nhà bà H1 để đòi tiền, quá trình điều tra xác định hành vi không cấu thành tội phạm hình sự chiếm đoạt tài sản nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ không xử lý.

[10]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

1. Tuyên bố: Bị cáo Dương Tiến D phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Điều 47 BLHS; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Bị cáo Dương Tiến D 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

2. Về phần dân sự: Không xem xét.

3. Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao dài 81,5cm được niêm phong trong phong bì ký hiệu D1; 01 con dao dài 106,2cm, 01 thanh kim loại dài 37cm, đường kính 0,5cm được niêm phong trong phong bì ký hiệu NS2 211911; chất màu nâu đỏ được niêm phong vào 02 phong bì ký hiệu MM1 và MM2; 01 đoạn cây tre, màu xám dài 2,715m, chu vi 14,5cm được niêm phong trong bì ký hiệu GT; 01 áo sơ mi cộc tay màu tím được niêm phong trong túi ký hiệu NS2 2221917; 01 áo phông cộc tay màu trắng, 01 quần dài màu xám ký hiệu trong túi niêm phong ký hiệu NS22111909.

(Đặc điểm, tình trạng vật chứng như mô tả trong quyết định chuyển vật chứng số 46/QĐ - VKSĐT ngày 14/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên và các biên bản giao nhận vật chứng kèm theo).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Dương Tiến D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản sao bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKS tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an huyện Đại Từ;
  • - VKS huyện Đại Từ;
  • - Chi cục THADS huyện Đại Từ;
  • - THAHS;
  • - Bị cáo; Người liên quan;
  • - Thông báo cho UBND xã;
  • - Lưu hồ sơ.

THAY MẶT. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kao Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự - gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 68/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger