TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20 – 5 – 2024 V/v “Tranh chấp xin ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Như.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đoàn Thị Sim.
Ông Nguyễn Ngọc Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Tính – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2024 về: “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 132/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị X, sinh năm 1995 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp P, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Ông Vũ Văn T, sinh năm 1994 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã R, huyện P, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đề ngày 19/01/2024 nguyên đơn bà Phạm Thị X trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Vũ Văn T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã R, huyện P, tỉnh Cà Mau năm 2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, thời gian sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và đã ly thân từ tháng 02/2023 đến nay. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trầm trọng nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Vũ Văn T.
Về nuôi con chung: Có 02 người con chung tên Vũ Anh T1 (giới tính nam), sinh ngày 16/4/2021 và Vũ An N (giới tính nữ), sinh ngày 06/7/2023. Hiện hai con đang chung sống với bà. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi hai người con, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản làm việc ngày 14/3/2024 bị đơn ông Vũ Văn T trình bày: Ông và bà X chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn như bà X trình bày là đúng. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn bà X bỏ về nhà mẹ ruột sống từ tháng 2/2023 cho đến nay. Ông đã cố gắng nếu kéo, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà X vẫn cương quyết ly hôn nên ông đồng ý ly hôn.
Về con chung: Có 02 người con Vũ Anh T1 (giới tính nam), sinh ngày 16/4/2021 và Vũ An N (giới tính nữ), sinh ngày 06/7/2023. Sau khi ly hôn ông yêu cầu được nuôi Vũ Anh T1, đồng ý giao Vũ An N cho bà X nuôi dưỡng. Không ai cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Trong ngày cưới phía gia đình ông cho vợ chồng 06 chỉ vàng 24K hiện bà X đang quản lý. Nay ông yêu cầu bà X trả 06 chỉ vàng 24K. Đối với số vàng bên gia đình bà X cho vợ chồng ông không yêu cầu.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Đại diện chính quyền địa phương UBND xã R nơi hai bên đương sự sinh sống xác định: Bà Phạm Thị X và ông Vũ Văn T không có yêu cầu hòa giải nên chính quyền địa phương không xác định được tình trạng mâu thuẫn.
Tại phiên tòa:
- Bà Phạm Thị X trình bày: Bà vẫn giữ quan điểm yêu cầu ly hôn vì cuộc sống chung ông T sống bảo thủ không cho vợ con đi khỏi nhà, quản lý chi tiêu khắt khe. Yêu cầu được nuôi hai người con chung và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi hai người con 1.000.000 đồng/tháng/người đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu.
- Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát: Về thủ tục tố tụng trong gian đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị X đối với ông Vũ Văn T. Về nuôi con chung giao hai người con tên Vũ Anh T1 (giới tính nam), sinh ngày 16/4/2021 và Vũ An N (giới tính nữ), sinh ngày 06/7/2023 cho bà Phạm Thị X tiếp tục nuôi dưỡng. Buộc ông Vũ Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung là 1.000.000 đồng/tháng/người đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động sinh sống. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bà Phạm Thị X khởi kiện xin ly hôn với ông Vũ Văn T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ông Vũ Văn T cư trú tại ấp T, xã R, huyện P, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Ông Vũ Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông T.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Bà Phạm Thị X và ông Vũ Văn T tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 55/2018 ngày 13/9/2018 tại Ủy ban nhân dân xã R, huyện P, tỉnh Cà Mau nên hôn nhân giữa bà X và ông T là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Bà X nhận thấy cuộc sống hôn nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông T chỉ lo uống rượu không quan tâm cho vợ con, sống bảo thủ không cho vợ con đi khỏi nhà, quản lý chi tiêu khắt khe. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn. Đối với, ông T đồng ý ly hôn với bà X. Xét thấy, mâu thuẫn của bà X và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà X, bà X được ly hôn với ông T.
[2.2] Về nuôi con chung: Có 02 người con tên Vũ Anh T1 (giới tính nam), sinh ngày 16/4/2021 và Vũ An N (giới tính nữ), sinh ngày 06/7/2023. Sau khi ly hôn bà X yêu cầu được nuôi hai người con. Ông T yêu cầu được nuôi con Vũ Anh T1 và giao Vũ An N cho bà X nuôi dưỡng.
Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi ly thân đến nay hai con chung do bà X chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung vẫn phát triển bình thường. Hơn nữa, cháu Vũ Anh T1 còn nhỏ, cháu Vũ An N chưa đủ 36 tháng tuổi nên cần sự chăm sóc của người mẹ để không làm xáo trộn môi trường sống của con và bà X có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung nên căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình quyết định để bà X trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Vũ Anh T1 và Vũ An N. Ông T không trực tiếp nuôi con nên có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung với số tiền 1.000.000 đồng/tháng/người. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động sinh sống. Trường hợp ông T chậm thi hành số tiền nêu trên, thì còn phải chịu tiền lãi theo quy định của pháp luật. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.
[2.3] Về tài sản chung: Bà X xác định không có nên không yêu cầu giải quyết. Ông T yêu cầu bà X trả 06 chỉ vàng 24K do gia đình ông cho vợ chồng trong ngày cưới. Tuy nhiên, Toà án đã thông báo cho ông nhưng ông không làm đơn yêu cầu. Do đó, Toà án không xem xét xét giải quyết trường hợp phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết trong vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
Nợ chung: Bà X và ông T xác định không có nên không xem xét giải quyết.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà X phải chịu; án phí cấp dưỡng nuôi con ông T phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, 110, 116 và 117 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị X đối với ông Vũ Văn T. Bà Phạm Thị X được ly hôn với ông Vũ Văn T.
Về nuôi con chung: Giao hai người con tên Vũ Anh T1 (giới tính nam), sinh ngày 16/4/2021 và Vũ An N (giới tính nữ), sinh ngày 06/7/2023 cho bà Phạm Thị X tiếp tục nuôi dưỡng.
Buộc ông Vũ Văn T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung là 1.000.000 đồng/tháng/người. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động sinh sống.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Ông Vũ Văn T không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng quyền thăm con để gây ảnh hưởng đến việc nuôi con của bà Phạm Thị X.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị X và ông Vũ Văn T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Phạm Thị X phải chịu 300.000 đồng. Bà Phạm Thị X đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003190 ngày 19 tháng 01 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau được chuyển thu. Án phí cấp dưỡng nuôi con ông Vũ Văn T phải chịu 300.000 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Như |
Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp xin ly hôn
