Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUÂN

Bản án số: 183/2024/HS-ST.

Ngày: 30 - 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Kiều Thu.

Bà Nguyễn Thị Viết Sáu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Trúc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 và ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 153a/2024/HSST ngày 05 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 237/2024/HSST-QĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn H, Giới tính: N, Sinh năm 1993 tại Thanh Hóa. ĐKHKTT: thôn I, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, C ở hiện nay: khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1957 (đã chết); Con bà: Bùi Thị N1, sinh năm 1960; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 24/7/2020, Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác tại Quyết định số 56144, đã nộp phạt vào ngày 20/11/2023; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” “Có mặt”.

2. Lê Huy A, Giới tính: N, Sinh năm 1992 tại Thanh Hóa, ĐKHKTT: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, C ở hiện nay: thôn D, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Huy T, sinh năm 1962; Con bà: Hồ Thị T1, sinh năm 1962 (đã chết); Vợ: Trương Thị Bích T2, sinh năm: 1994; Con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” “Có mặt”.

3. Nguyễn Văn T3, Giới tính: N, Sinh năm 1987 tại Thanh Hóa, ĐKHKTT: tổ dân phố C, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa, C ở hiện nay: khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không, Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn T4, sinh năm 1950 (đã chết); Con bà: Mai Thị H2, sinh năm 1950; Vợ: Lý Thị O, sinh năm: 1999; Con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” “Có mặt”.

4. Nguyễn Minh T5, Giới tính: Nam, Sinh năm 1991 tại Hà Nội, ĐKHKTT: thôn P, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội, Chỗ ở hiện nay: Căn hộ 1411CC2, chung cư P thuộc khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn G, sinh năm 1956; Con bà: Nguyễn Thị T6, sinh năm 1961; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” “Có mặt”.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Huỳnh Thị T7, sinh năm 1966 (vắng mặt).

Địa chỉ: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

*Người làm chứng:

1/ Bà Đồng Thị Mỹ L, sinh năm 1998 (vắng mặt);

Địa chỉ: thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

2/ Ông Lê Quang H3, sinh năm 1995 (vắng mặt);

Địa chỉ: thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

3/ Nguyễn Văn C1, sinh năm 1995 (vắng mặt);

Địa chỉ: đội H, tân D, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ ngày 18/5/2023 đến ngày 05/7/2023, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T3, Lê Huy A đã có hành vi cho Huỳnh Thị T7 vay tiền và từ ngày 15/6/2023 đến ngày 07/7/2023 Nguyễn Minh T5 đã có hành vi cho Huỳnh Thị T7 vay tiền. Cụ thể như sau:

1. Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T3, Lê Huy A cho Huỳnh Thị T7 vay 09 lần như sau:

- Lần 1: Vào ngày 18/5/2023, H góp 300.000.000 đồng, Anh góp 140.000.000 đồng, T3 góp 60.000.000 đồng cho T7 vay 500.000.000 đồng, thời hạn trả 25 ngày tính từ ngày 18/5/2023 đến ngày 11/6/2023, mỗi ngày T7 trả góp 25.000.000 đồng (20.000.000 đồng tiền gốc và 5.000.000 đồng tiền lãi). Theo thỏa thuận thì H, T3, Anh trừ trước 5 ngày là 125.000.000 đồng nên đưa cho T7 số tiền 375.000.000 đồng. H nhờ Lê Quang H3 (sinh năm 1995, trú tại thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) chuyển khoản số tiền trên cho T7 từ tài khoản ngân hàng Q (viết tắt là M) số [...] của H3 qua tài khoản ngân hàng Á (viết tắt là A1) số 57311679 của T7 do T7 cung cấp 340.000.000 đồng và H giao tiền mặt cho T7 35.000.000 đồng.

T7 trả góp được 01 thời gian thì T7 nói với H, T3, Anh sẽ vay lần vay tiếp theo, số tiền nợ của lần 1 chưa trả sẽ khấu trừ vào số tiền vay lần sau, H, T3, A đồng ý. Như vậy, lần 1 T7 đã góp xong toàn bộ gốc và lãi.

Tính % lãi suất T7 phải trả cho H, T3, A:

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì lãi suất không được vượt quá 20%/năm. Số tiền lãi H, T3, A cho T7 vay là 5.000.000 đồng/01 ngày= 1%/1 ngày= 365%/ năm thì H, T3, Anh cho T7 vay với lãi suất vượt 18,25 lần.

Tổng số tiền lãi T7 đã trả cho H, T3, Anh là: 5.000.000 đồng x 25 ngày = 125.000.000 đồng.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì số tiền lãi T7 phải trả cho H, T3, Anh là: 500.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 25 ngày = 6.849.315 đồng.

Như vậy, số tiền H, T3, A đã thu lợi bất chính: 125.000.000 đồng – 6.849.315 đồng = 118.150.685 đồng. H lấy 70.890.411 đồng, đưa cho Anh 33.082.192 đồng và đưa cho T3 14.178.082 đồng.

- Lần 2: Ngày 23/5/2023, T7 tiếp tục vay số tiền 100.000.000 đồng của cá nhân H, thời hạn trả 25 ngày tính từ ngày 23/5/2023 đến ngày 16/6/2023, mỗi ngày T7 trả góp 5.000.000 đồng (tiền gốc 4.000.000 đồng và tiền lãi 1.000.000 đồng). Hoàng trừ số tiền 03 ngày của lần 1 mà T7 còn nợ là 75.000.000 đồng và trừ trước 05 ngày của khoản vay này là 25.000.000 đồng nên lần vay này T7 không nhận được tiền vay.

T7 trả góp được 01 thời gian thì T7 nói với H sẽ vay lần vay tiếp theo, còn số tiền nợ của lần 2 chưa trả sẽ khấu trừ vào số tiền vay lần sau, H đồng ý. Như vậy, lần 2 thì T7 đã góp xong toàn bộ gốc và lãi.

Tính % lãi suất T7 phải trả cho H:

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì lãi suất không được vượt quá 20%/năm. Số tiền lãi H cho T7 vay là 1.000.000 đồng/01 ngày = 1%/ 1 ngày = 365%/ năm thì H cho T7 vay với lãi suất vượt 18,25 lần.

Tổng số tiền lãi T7 đã trả cho H: 1.000.000 đồng x 25 ngày = 25.000.000 đồng.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì số tiền lãi T7 phải trả cho H là: 100.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 25 ngày = 1.369.863 đồng.

Như vậy, số tiền H đã thu lợi bất chính: 25.000.000 đồng – 1.369.863 đồng = 23.630.137 đồng.

- Lần 3: Ngày 01/6/2023, T7 tiếp tục vay số tiền 100.000.000 đồng của cá nhân H, thời hạn vay 25 ngày tính từ ngày 01/6/2023 đến ngày 25/6/2023, mỗi ngày T7 trả góp 5.000.000 đồng (tiền gốc 4.000.000 đồng, tiền lãi 1.000.000 đồng). H lấy tiền nợ trước 03 ngày là 15.000.000 đồng nên T7 thực nhận là 85.000.000 đồng. H nhờ Lê Quang H3 chuyển khoản số tiền trên cho T7 từ tài khoản ngân hàng Q (viết tắt là M) số [...] của H3 qua tài khoản ngân hàng V số 10984949533 của Đồng Thị Mỹ L do T7 cung cấp. Lần vay này, T7 đã trả đủ tiền gốc và tiền lãi cho H.

Tương tự như cách tính ở lần 2: Số tiền H thu lợi bất chính là 23.630.137 đồng.

- Lần 4: Ngày 01/6/2023, H góp 300.000.000 đồng, Anh góp 140.000.000 đồng, T3 góp 60.000.000 đồng để cho T7 vay số tiền 500.000.000 đồng, thời hạn vay 25 ngày tính từ ngày 01/6/2023 đến ngày 25/6/2023, mỗi ngày T7 trả 25.000.000 đồng (tiền gốc 20.000.000 đồng, tiền lãi 5.000.000 đồng). Hoàng trừ 11 ngày tiền nợ của khoản vay lần 1 là 275.000.000; trừ 03 ngày tiền nợ khoản vay lần 2 là 15.000.000 đồng; lấy tiền trả nợ trước 03 ngày của khoản vay này là 75.000.000 đồng nên T7 thực nhận là 135.000.000 đồng. H nhờ H3 chuyển số tiền trên từ tài khoản M1 số [...] của H3 qua tài khoản ngân hàng V1 số [...] tên chủ tài khoản Đồng Thị Mỹ L do T7 cung cấp. Lần vay này, T7 đã trả đủ tiền gốc và tiền lãi cho H, T3A.

Tương tự như cách tính ở lần 1: số tiền H, T3, A đã thu lợi bất chính là 118.150.685 đồng. H lấy 70.890.411 đồng, đưa cho Anh 33.082.192 đồng và đưa cho T3 14.178.082 đồng.

- Lần 5: Ngày 09/6/2023, T7 tiếp tục vay số tiền 100.000.000 đồng của cá nhân H, thời hạn vay 25 ngày tính từ ngày 09/6/2023 đến ngày 03/7/2023, mỗi ngày T7 trả góp 5.000.000 đồng (tiền gốc 4.000.000 đồng, tiền lãi 1.000.000 đồng). Hoàng trừ 08 ngày tiền nợ của khoản vay lần 2 là 40.000.000 đồng; trừ 01 ngày tiền nợ của khoản vay lần 4 là 30.000.000 đồng; lấy tiền trả nợ trước 02 ngày của khoản vay này là 10.000.000 đồng nên T7 thực nhận 20.000.000 đồng. H nhờ H3 dùng tài khoản M1 số [...] của H3 chuyển số tiền trên qua số tài khoản A2 số 57311679 của T7 đứng tên do T7 cung cấp. Lần vay này, T7 đã trả đủ tiền gốc và tiền lãi cho H.

Tương tự như cách tính ở lần 2: Số tiền H thu lợi bất chính là 23.630.137 đồng.

- Lần 6: Ngày 12/6/2023, H góp 400.000.000 đồng; Anh góp 140.000.000 đồng; T3 góp 60.000.000 đồng cho bà T7 vay 600.000.000 đồng, thời hạn vay 25 ngày tính từ ngày 12/6/2023 đến ngày 06/7/2023, mỗi ngày T7 trả 30.000.000 đồng (tiền gốc 24.000.000 đồng, tiền lãi 6.000.000 đồng). Hoàng trừ 14 ngày tiền nợ của 02 khoản vay lần 3 và lần 4 là 420.000.000; trừ 02 ngày tiền nợ của khoản vay lần 5 là 10.000.000 đồng; thu trước 02 ngày tiền nợ của khoản vay này là 60.000.000 đồng nên T7 thực nhận là 110.000.000 đồng. H nhờ H3 dùng tài khoản ngân hàng M1 số [...] của H3 chuyển số tiền trên qua tài khoản A2 số 5084727 của T7 do T7 cung cấp. Lần vay này, T7 đã trả đủ tiền gốc và tiền lãi cho H, T3A.

Tương tự như cách tính ở lần 1: số tiền H, T3, A đã thu lợi bất chính là 141.780.822 đồng. H lấy 94.520.548 đồng, đưa cho Anh 33.082.192 đồng và đưa cho T3 14.178.082 đồng.

- Lần 7: Ngày 18/6/2023, H cho T7 vay 40.000.000 đồng bằng tiền cá nhân của H, thời hạn vay 25 ngày (từ ngày 18/6/2023 đến ngày 12/7/2023), mỗi ngày T7 trả 2.000.000 đồng (tiền gốc 1.600.000 đồng, tiền lãi 400.000 đồng). Hoàng trừ 01 ngày tiền nợ của khoản vay ngày lần 5 là 5.000.000 đồng; trừ 01 ngày tiền nợ của khoản vay lần 6 là 30.000.000 đồng; thu trước 02 ngày tiền nợ của khoản vay này là 4.000.000 đồng nên T7 thực nhận là 1.000.000 đồng. Do số tiền còn lại ít nên T7 không nhận mà để đóng cho các lần sau. Lần vay này, T7 đã trả đủ tiền gốc và tiền lãi cho H.

Tương tự như cách tính ở lần 2: Số tiền H thu lợi bất chính là 9.452.055 đồng.

- Lần 8: Ngày 24/6/2023, H góp 500.000.000 đồng; Anh góp 140.000.000 đồng; Thưởng góp 60.000.000 đồng cho T7 vay 700.000.000 đồng, thời hạn vay 25 ngày tính từ ngày 24/6/2023 đến ngày 18/7/2023, mỗi ngày T7 trả 35.000.000 đồng (tiền gốc 28.000.000 đồng, tiền lãi 7.000.000 đồng). Hoàng trừ 10 ngày tiền nợ của khoản vay lần 5 là 50.000.000 đồng; trừ 13 ngày tiền nợ của khoản vay lần 6 là 390.000.000 đồng; trừ 19 ngày tiền nợ của khoản vay lần 7 là 38.000.000 đồng; thu trước 02 ngày tiền nợ của khoản vay này là 70.000.000 đồng nên T7 thực nhận là 152.000.000 đồng. H nhờ H3 dùng tài khoản M1 số 8430103266789 của H3 chuyển số tiền trên qua tài khoản V1 số 0949495533 và 100871785165, tên chủ tài khoản Đồng Thị Mỹ L do T7 cung cấp. Lần vay này, T7 đã trả đủ tiền gốc và tiền lãi cho H, T3, A.

Tương tự như cách tính ở lần 1: số tiền H, T3, A đã thu lợi bất chính là 165.410.959 đồng. H lấy 118.150.685 đồng, đưa cho Anh 33.082.192 đồng và đưa cho T3 14.178.082 đồng.

- Lần 9: Ngày 05/7/2023, H góp 500.000.000 đồng; Anh góp 140.000.000 đồng; Thưởng góp 60.000.000 đồng cho T7 vay 700.000.000 đồng, thời hạn vay 21 ngày tính từ ngày 05/7/2023 đến ngày 25/7/2023, mỗi ngày T7 trả 42.000.000 đồng (tiền gốc 33.333.333 đồng, tiền lãi 8.666.667 đồng). Hoàng trừ 15 ngày tiền nợ của khoản vay lần 8 là 525.000.000 đồng; thu trước 02 ngày tiền nợ của khoản vay này là 84.000.000 đồng nên T7 thực nhận 91.000.000 đồng. Do từ ngày 30/6/2023 đến ngày 04/7/2023 (05 ngày), mỗi ngày T7 trả nợ dư 2.000.000 đồng nên H, A, T3 phải đưa cho T7 tổng cộng ở lần vay này là 101.000.000 đồng. Tuy nhiên, H, A, T3 cộng nhầm 15.000.000 đồng nên H nhờ H3 dùng tài khoản M1 số [...] của H3 chuyển 116.000.000 đồng vào tài khoản V1 số 0949495533 và 100871785165, tên chủ tài khoản Đồng Thị Mỹ L do T7 cung cấp. Đến hết ngày 07/7/2023, T7 mất khả năng trả nợ. Đối với khoản vay này, T7 trả được tổng cộng 03 ngày (trả 01 ngày và thu nợ trước 02 ngày) thì mất khả năng trả. T7 còn nợ số tiến gốc 18 ngày là 599.999.994 đồng (33.333.333 đồng x 18 ngày), cộng với 15.000.000 đồng chuyển nhầm nên tổng cộng T7 còn nợ nhóm H là 614.999.994 đồng.

Tính % lãi suất T7 phải trả cho H, T3, A:

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì lãi suất không được vượt quá 20%/năm. Số tiền lãi H, T3, A cho T7 vay là 8.666.667 đồng/01 ngày = 1,238%/1 ngày = 452%/ năm thì H, T3, Anh cho T7 vay với lãi suất vượt 22,6 lần.

Tổng số tiền lãi T7 đã trả cho H, T3, Anh là: 8.666.667 đồng x 03 ngày = 26.000.000 đồng.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì số tiền lãi T7 phải trả cho H, T3, Anh là: 700.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 03 ngày = 1.150.684 đồng.

Như vậy, số tiền H, T3, A đã thu lợi bất chính: 26.000.000 đồng – 1.150.684 đồng = 24.849.316 đồng. H lấy 17.751.284 đồng, đưa cho Anh 4.968.623 đồng và đưa cho T3 2.129.409 đồng.

Vậy tổng số tiền H, T3, A thu lợi bất chính từ T7 của 9 lần vay là: 118.150.685 đồng +23.630.137 đồng + 23.630.137 đồng + 118.150.685 đồng + 23.630.137 đồng + 141.780.822 đồng+ 9.452.055 đồng + 165.410.959 đồng+ 24.849.316 đồng = 648.684.933 đồng. Trong đó H thu lợi 452.545.803 đồng; Anh thu lợi 137.297.390 đồng; Thưởng thu lợi 58.841.740 đồng.

2. Nguyễn Minh T5 cho Huỳnh Thị T7 vay 03 lần như sau:

- Lần 1: Ngày 15/6/2023, T5 cho T7 vay trả góp 300.000.000 đồng, thời hạn vay 21 ngày tính từ ngày 15/6/2023 đến ngày 05/7/2023, mỗi ngày trả số tiền 18.000.000 đồng (tiền gốc là 14.285.714 đồng và tiền lãi là 3.714.286 đồng). Theo thỏa thuận T5 lấy trước 03 ngày tiền nợ là 54.000.000 đồng; thu 5.000.000 đồng tiền phí nên T7 chỉ thực nhận là 241.000.000 đồng. T5 nhờ Nguyễn Văn C1 (sinh năm 1995, trú tại Đội 8 T, xã P, huyện T, thành phố Hà Nội) dùng tài khoản ngân hàng Thương mại cổ phần Q (gọi tắt là MB) số 0120199499999 của C1 chuyển vào tài khoản ngân hàng V số [...] do Đồng Thị Mỹ L đứng tên do T7 cung cấp.

T7 trả góp được 01 thời gian thì T7 nói với T5 sẽ vay lần vay tiếp theo, còn số tiền nợ của lần 1 chưa trả sẽ khấu trừ vào số tiền vay lần sau, T5 đồng ý. Như vậy, lần 1 thì T7 đã góp xong toàn bộ gốc và lãi.

Tính % lãi suất T7 phải trả cho T5:

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì lãi suất không được vượt quá 20%/năm. Số tiền lãi T5 cho T7 vay là 3.714.286 đồng/01 ngày= 1,238%/1 ngày = 451,9%/ năm thì T5 cho T7 vay với lãi suất vượt 22,5 lần.

Tổng số tiền lãi T7 đã trả cho T5 là: 3.714.286 đồng x 21 ngày = 78.000.006 đồng.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì số tiền lãi T7 phải trả cho T5 là: 300.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 21 ngày = 3.452.054 đồng.

Như vậy, số tiền T5 đã thu lợi bất chính: 78.000.006 đồng – 3.452.054 đồng = 74.547.952 đồng.

- Lần 2: Ngày 26/6/2023, T5 cho T7 vay trả góp 300.000.000 đồng, thời hạn vay 21 ngày tính từ ngày 26/6/2023 đến ngày 16/7/2023, mỗi ngày trả 18.000.000 đồng (tiền gốc là 14.285.714 đồng và tiền lãi là 3.714.286 đồng). T5 trừ 08 ngày tiền nợ của khoản vay lần 1 là 144.000.000 đồng; lấy trước 03 ngày tiền nợ của khoản vay này là 54.000.000 đồng; thu 5.000.000 đồng tiền phí nên T7 thực nhận là 97.000.000 đồng. T5 nhờ C1 dùng tài khoản ngân hàng TMCP K (viết tắt là T8) số 6789111888 của C1 chuyển 97.000.000 đồng qua số tài khoản ngân hàng A3, tên chủ tài khoản là Đồng Thị Mỹ L do T7 cung cấp.

T7 trả góp được 01 thời gian thì T7 nói với T5 sẽ vay lần vay tiếp theo, còn số tiền nợ của lần 1 chưa trả sẽ khấu trừ vào số tiền vay lần sau, T5 đồng ý. Như vậy, lần 2 thì T7 đã góp xong toàn bộ gốc và lãi.

Tương tự như cách tính ở lần 1: số tiền T5 đã thu lợi bất chính là 74.547.952 đồng.

- Lần 3: Ngày 07/7/2023, T5 cho T7 vay 300.000.000 đồng, thời hạn vay 21 ngày tính từ ngày 07/7/2023 đến ngày 27/7/2023), mỗi ngày trả 18.000.000 đồng (tiền gốc là 14.285.714 đồng và tiền lãi là 3.714.286 đồng). T5 trừ 08 ngày tiền nợ của khoản vay lần 2 là 144.000.000 đồng; lấy trước 03 ngày tiền nợ của khoản vay này; thu 5.000.000 đồng tiền phí nên T7 thực nhận là 97.000.000 đồng. T5 nhờ C1 dùng tài khoản T8 số 6789111888 của C1 chuyển 97.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng A3, tên chủ tài khoản là Đồng Thị Mỹ L do T7 cung cấp. Đối với khoản vay này, T7 trả được tổng cộng 07 ngày (trả 04 ngày (có 02 ngày trả đủ tiền lãi và gốc; có 02 ngày, mỗi ngày chỉ trả tiền gốc là 10.000.000 đồng, không trả tiền lãi nên không tính tiền thu lại bất chính đối với 02 ngày này) và thu nợ trước 03 ngày) thì mất khả năng trả. T7 còn nợ số tiền gốc 14 ngày và 02 ngày, mỗi ngày trả tiền gốc còn nợ lại 4.285.714 đồng là 14.285.714 đồng x 14 ngày + 4.285.714 đồng + 4.285.714 đồng = 208.571.424 đồng.

Tính % lãi suất T7 phải trả cho T5:

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì lãi suất không được vượt quá 20%/năm. Số tiền lãi T5 cho T7 vay là 3.714.286 đồng/01 ngày= 1,238%/1 ngày = 451,9%/ năm thì T5 cho T7 vay với lãi suất vượt 22,5 lần.

Tổng số tiền lãi T7 đã trả cho T5 là: 3.714.286 đồng x 05 ngày = 18.571.430 đồng.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì số tiền lãi T7 phải trả cho H, T3, Anh là: 300.000.000 đồng x 20%/365 ngày x 03 ngày = 821.918 đồng.

Như vậy, số tiền T5 đã thu lợi bất chính: 18.571.430 đồng - 821.918 đồng = 17.749.512 đồng.

Vậy tổng số tiền T5 thu lợi bất chính từ T7 của 3 lần vay là: 74.547.952 đồng + 74.547.952 đồng + 17.749.512 đồng = 166.845.416 đồng.

Vật chứng của vụ án:

Huỳnh Thị T7 giao nộp:

  • 19 hình ảnh chuyển khoản thành công từ T7 và L đến LE QUANG HAI được in trên giấy A4, được đánh số từ 25-43.
  • 17 hình ảnh chuyển khoản thành công từ T7 và L đến NGUYEN MINH TRUONG được in trên giấy A4, được đánh số từ 01-07; 09-16; 18.
  • 02 hình ảnh chuyển khoản thành công từ Lin đến Nguyễn Văn C1 được in trên giấy A4, được đánh số 08 và 17.
  • 10 tờ in 02 mặt và 01 tờ in 01 mặt trên khổ A4 tin nhắn liên lạc việc cho vay tiền giữa Nguyễn Văn H và bà Huỳnh Thị T7.
  • 06 bản in sao kê tài khoản của Đồng Thị Mỹ L được in trên giấy A4.
  • 41 tờ thể hiện nội dung sao kê chi tiết giao dịch tài khoản của Đồng Thị Mỹ L tại Ngân hàng TMCP C2.

Nguyễn Văn H giao nộp: 01 Căn cước công dân số [...] cấp ngày 30 tháng 6 năm 2022, nơi cấp Cục Cảnh sát QLHC về TTXH mang tên Nguyễn Văn H; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Hoàng sử dụng để liên lạc với bà Huỳnh Thị T7 trong quá trình cho vay tiền và số tiền 280.000 đồng.

Lê Huy A giao nộp: 01 CMND số [...] cấp ngày 30 tháng 9 năm 2014, nơi cấp Công an tỉnh T cho Lê Huy A; 01 điện thoại di động hiệu IPHONE XS MAX màu trắng số IMEI: 35727709249023; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu xanh số seri: 356819635799755 và số tiền 1.130.000 đồng.

Nguyễn Minh T5 giao nộp: 01 Căn cước công dân số [...] cấp ngày 25 tháng 4 năm 2021, nơi cấp Cục Cảnh sát QLHC về TTXH mang tên Nguyễn Minh T5; 01 điện thoại di động hiệu S M33 5G Trường sử dụng để liên lạc với bà Huỳnh Thị T7 trong quá trình cho vay tiền và số tiền 14.490.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 260/CT – VKSPT - HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T3, Lê Huy A, Nguyễn Minh T5 về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 02 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 02 Điều 201; điểm g khoản 01 Điều 52, điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 06 đến 09 tháng tù; Áp dụng khoản 02 Điều 201; điểm g khoản 01 Điều 52, điểm s khoản 01, khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Huy A phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 350.000.000 đồng; Áp dụng: khoản 02 Điều 201; điểm g khoản 01 Điều 52, điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Thưởng p tiền từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng; Áp dụng khoản 02 Điều 201; điểm g khoản 01 Điều 52, điểm s khoản 01, khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T5 phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 250.000.000 đồng và đề nghị xử lý biện pháp tư pháp.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của Viện kiểm sát đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết. Các bị cáo biết việc làm của mình là sai và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về chứng cứ buộc tội các bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, các bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, cũng như lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Trong thời gian từ ngày 18/5/2023 đến ngày 05/7/2023, các bị cáo Nguyễn Văn H, Lê Huy ANguyễn Văn T3 đã có hành vi cùng góp tiền để cho bà Huỳnh Thị T7 vay với mức lãi suất cho vay từ 365%/năm đến 452%/năm, gấp 18,25 đến 22,6 lần so với mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự nhằm thu lợi bất chính, trong bị cáo Nguyễn Văn H cho bà Huỳnh Thị T7 vay 09 lần để thu lợi bất chính số tiền là 452.545.805 đồng, bị cáo Lê Huy A cho bà Huỳnh Thị T7 vay 05 lần để thu lợi bất chính số tiền là 137.297.391 đồng, bị cáo Nguyễn Văn T3 cho bà Huỳnh Thị T7 vay 05 lần để thu lợi bất chính số tiền là 58.841.737 đồng.

Từ ngày 15/6/2023 đến ngày 07/7/2023, bị cáo Nguyễn Minh T5 đã cho bà Huỳnh Thị T7 vay 03 lần với mức lãi suất cho vay 451,9%/năm, gấp 22,6 lần so với mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự để thu lợi bất chính với số tiền 166.845.416 đồng.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc cho vay tiền với mức lãi suất vượt quá 05 lần trở lên so với mức lãi suất cao nhất theo quy định tại Bộ Luật Dân sự là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T3, Lê Huy ANguyễn Minh T5 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ ảnh hưởng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ đã được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn mang tính chất bóc lột làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, điêu đứng thậm chí phải bán tài sản để trả nợ, ngoài ra hành vi phạm tội của các bị cáo còn có khả năng làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự cũng như sức khỏe của những người vay tiền và gia đình của họ. Mặc dù bản thân các bị cáo biết rõ việc cho vay lãi nặng là trái pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng các bị cáo xem thường pháp luật, bất chấp hậu quả các bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội.

Hành vi của các bị cáo thể hiện tính nguy hiểm cao cho xã hội nên cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự và áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc nhằm để răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Trong vụ án này, đối với nhóm bị cáo H gồm H, A, T3 thì bị cáo H là người khởi xướng việc hùn tiền cho vay, bị cáo T3 và bị cáo A mặc dù biết bị cáo H thực hiện hành vi trên là phạm tội nhưng bị cáo A, T3 đã không ngăn cản mà còn góp tiền cùng bị cáo H thực hiện việc cho bà T7 vay tiền nên bị cáo A, T3 giữ vai trò giúp sức. Do đó, khi quyết định hình phạt xem xét tính chất, vai trò phạm tội của các bị cáo để có mức hình phạt tương xứng với từng bị cáo.

Đối với bị cáo Nguyễn Minh T5 thực hiện hành vi độc lập trong việc cho bà Huỳnh Thị T7 vay tiền.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo T3, A, H, T5 thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần được quy định tại điểm g khoản 01 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo T5 đã từng tham gia nghĩa vụ quân sự tại tiểu đoàn đặc công 18 tại quận H - Hà Nội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Lê Huy A hiện nay đang nuôi 2 con nhỏ và là lao động duy nhất trong gia đình (có đơn xác nhận của UBND xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận) nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 02 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về nhân thân: Bị cáo H có nhân thân xấu vào ngày 24/7/2020, Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác tại Quyết định số 56144, đã nộp tiền vào ngày 20/11/2023.

[6] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.

Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét nhân thân của các bị cáo, mặc dù các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng tuy nhiên hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Ngân hàng N2 trong lĩnh vực tài chính. Hành vi cho vay lãi nặng tự phát, không tuân thủ các quy tắc tín dụng, không có sự quản lý của Ngân hàng N2 gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt các bị cáo một hình phạt tương xứng với vai trò, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm thể hiện tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Đối với bị cáo Hoàng xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết.

Đối với bị cáo Nguyễn Minh T5, Nguyễn Văn T3, Lê Huy A, các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, do vậy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà thể hiện sự khoan hồng của pháp luật chỉ cần áp dụng hình phạt chính là phạt tiền quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.

[7] Theo kết quả sao kê số tiền của các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ vụ án xác định được như sau:

1. Đối với bị cáo Nguyễn Văn H:

- Theo hợp đồng của 09 lần bị cáo H cho bà T7 vay là 2.340.000.000. đồng, bị cáo Hoàng t trước số tiền là 258.822.000 đồng tiền gốc; thu tiền lãi là 452.545.805 đồng; tiền lãi theo mức cao nhất của Bộ luật dân sự quy định là 26.027.397 đồng. Từ ngày 08/7/2023, bà T7 còn nợ H 428.598.000 đồng tiền gốc.

- Theo thực tế của 09 lần bị cáo H cho bà T7 vay là 658.000.000 đồng. Bà T7 đã trả tiền gốc cho bị cáo H là 602.211.000 đồng và 150.789.000 đồng tiền lãi, trong đó lãi theo mức quy định cao nhất của Bộ luật dân sự là 8.087.666 đồng, số tiền thu lợi bất chính 142.701.334 đồng. Đến ngày 08/7/2023, bà T7 còn nợ bị cáo H 55.789.000 đồng tiền gốc.

2. Đối với Lê Huy A:

- Theo hợp đồng của 05 lần bị cáo A cho bà T7 vay là 700.000.000. đồng, bị cáo A thu trước số tiền 80.533.384 là đồng tiền gốc; thu tiền lãi là 137.297.391 đồng; tiền lãi theo mức cao nhất mà Bộ luật dân sự quy định là 7.901.369 đồng. Từ ngày 08/7/2023, bà T7 còn nợ Anh 120.000.000 đồng tiền gốc.

- Theo thực tế của 05 lần bị cáo A cho bà T7 vay là 235.000.000 đồng. Bà T7 đã trả tiền gốc cho bị cáo A là 174.670.000 đồng và 43.730.000 đồng tiền lãi, tiền lãi theo mức quy định cao nhất của Bộ luật dân sự là 2.378.082 đồng, số tiền thu lợi bất chính 41.351.918 đồng. Đến ngày 08/7/2023, bà T7 còn nợ bị cáo Anh 60.530.000 đồng tiền gốc

3. Đối với Nguyễn Văn T3:

- Theo hợp đồng của 05 lần bị cáo T3 cho bà T7 vay 300.000.000; bị cáo A thu trước 34.514.307 đồng tiền gốc; thu tiền lãi là 58.841.737 đồng, tiền lãi theo mức cao nhất mà Bộ luật dân sự quy định là 3.386.302 đồng. Đến ngày 08/7/2023, bà T7 còn nợ Thưởng 51.400.000 đồng tiền gốc.

- Theo thực tế của 05 lần bị cáo T3 cho bà T7 vay 100.800.000 đồng. Bà T7 đã trả cho bị cáo T3 74.875.000 đồng tiền gốc và 18.743.000 đồng tiền lãi, tiền lãi theo mức cao nhất mà Bộ luật dân sự quy định là 1.019.178 đồng, T3 đã thu lợi bất chính 17.723.822 đồng. Từ ngày 13/7/2023, bà T7 còn nợ bị cáo T3 25.925.000 đồng tiền gốc.

4. Đối với Nguyễn Minh T5:

- Theo hợp đồng của 03 lần bị cáo T5 cho bà T7 vay 900.000.000 đồng; thu trước 128.571.426 đồng tiền gốc và 15.000.000 tiền phí trong 03 lần cho vay (tổng là 143.571.426 đồng); tiền lãi vượt quá là 166.845.416 đồng; tiền lãi theo mức cao nhất mà Bộ luật dân sự quy định là 7.726.026 đồng. Đến ngày 14/7/2023, bà T7 còn nợ bị cáo T5 208.571.424 đồng tiền gốc.

- Theo thực tế của 03 lần bị cáo T5 cho bà T7 vay 435.000.000 đồng. Bà T7 đã trả cho T5 334.285.708 đồng tiền gốc và 88.714.292 đồng tiền lãi, tiền lãi theo mức cao nhất mà Bộ luật dân sự quy định là 3.616.438 đồng, thu lợi bất chính 85.097.854 đồng. Đến ngày 13/7/2023, bà T7 còn nợ bị cáo T5 100.714.292 đồng tiền gốc.

Theo nguyên tắc có lợi cho các bị cáo nên về biện pháp tư pháp, Hội đồng xét xử căn cứ vào việc cho vay và trả nợ thực tế giữa các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan như sau:

-Biện pháp tư pháp:

  • Buộc bị cáo H phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự cho bà Huỳnh Thị T7 số tiền là 142.701.334 đồng.
  • Buộc bị cáo A phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự cho bà Huỳnh Thị T7 số tiền là 41.351.918 đồng.
  • Buộc bị cáo T3 phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự cho bà Huỳnh Thị T7 số tiền là 17.723.822 đồng.
  • Buộc bị cáo T5 phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật Dân sự cho bà Huỳnh Thị T7 số tiền là 85.097.854 đồng.
  • Số tiền gốc mà bà Huỳnh Thị T7 còn nợ chưa trả cho các bị cáo là 142.244.000 đồng ( trong đó: bị cáo H là 55.789.000 đồng, T3 25.925.000 đồng, Anh 60.530.000 đồng). Đây là số tiền gốc còn lại của các bị cáo dùng cho vay vào hoạt động phạm tội, do đó buộc bà Huỳnh Thị T7 nộp lại số tiền này để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • Số tiền gốc là mà bà Huỳnh Thị T7 còn nợ chưa trả cho bị cáo T5 là 100.714.292 đồng. Đây là số tiền gốc còn lại bị cáo T5 dùng cho vay vào hoạt động phạm tội, do đó buộc bà Huỳnh Thị T7 nộp lại số tiền này để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
  • Buộc bị cáo H nộp lại số tiền 610.298.666 đồng (tiền gốc đã cho vay và tiền lãi theo bộ luật dân sự) sung vào ngân sách nhà nước.
  • Buộc bị cáo A nộp lại số tiền 177.048.082 đồng (tiền gốc đã cho vay và tiền lãi theo bộ luật dân sự) sung vào ngân sách nhà nước.
  • Buộc bị cáo T3 nộp lại số tiền 75.894.178 đồng (tiền gốc đã cho vay và tiền lãi theo bộ luật dân sự) sung vào ngân sách nhà nước.
  • Buộc bị cáo T5 nộp lại số tiền 337.902.146 đồng (tiền gốc đã cho vay và tiền lãi theo bộ luật dân sự) sung vào ngân sách nhà nước.

Tại phiên toà, các bị cáo yêu cầu bà Huỳnh Thị T7 phải trả tiền lãi cho các bị cáo từ với lãi suất 20%/năm từ ngày 08/7/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (đối với bị cáo H, A, T3; từ ngày 13/7/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm đối với bị cáo T5). Xét thấy, việc vay tiền giữa các bị cáo và bà T7 là hoàn toàn tự nguyện, lãi suất các bị cáo yêu cầu không vượt quá so với quy định của Bộ luật dân sự nên buộc bà Huỳnh Thị T7 phải trả tiền lãi cho các bị cáo theo mức lãi suất quy định của Bộ luật dân sự thì yêu cầu của các bị cáo có cơ sở chấp nhận và được tính như sau:

Đối với bị cáo H: 55.789.000 đồng x 1,66% x 13 tháng 21 ngày =12.687.000 đồng.

Đối với bị cáo Anh: 60.530.000 đồng x 1,66% x 13 tháng 21 ngày = 13.766.000 đồng.

Đối với bị cáo T3: 25.925.000 đồng x 1,66% x 13 tháng 21 ngày = 5.896.000 đồng.

Đối với bị cáo T5: 100.714.292 đồng x 1,66% x 13 tháng 16 ngày = 22.626.000 đồng.

Do đó, bà Huỳnh Thị T7 phải trả tiền cho bị cáo H số tiền là 12.687.000 đồng.

Huỳnh Thị T7 phải trả tiền lãi cho bị cáo A số tiền là 13.766.000 đồng.

Huỳnh Thị T7 phải trả tiền lãi cho bị cáo T3 số tiền là 5.896.000 đồng.

Huỳnh Thị T7 phải trả tiền lãi cho bị cáo T5 số tiền là 22.626.000 đồng.

- Xử lý vật chứng:

  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu trắng của bị cáo H dùng liên hệ cho vay lãi nặng, 01 điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy M33 5 G màu xanh; số imei: 358243511905550 là điện thoại bị cáo T5 sử dụng cho vay lãi nặng.
  • Tiếp tục tạm giữ số tiền 280.000 đồng thu giữ của bị cáo H, số tiền 1.130.000 đồng thu giữ của bị cáo A, số tiền 14.490.000đồng thu giữ của bị cáo T5 để đảm bảo thi hành án.

Đối với Lê Quang H3, Nguyễn Văn C1 có hành vi cho bị cáo H và bị cáo T5 mượn tài khoản để chuyển tiền vay và nhận tiền lãi từ bà T7. H3, C1 không biết bị cáo H, T5 thực hiện hành vi cho vay lãi nặng đối với bà T7H3, C1 không hưởng lợi từ việc cho vay tiền, do đó Cơ quan điều tra Công an thành phố P không xử lý hình sự đối với H3, C1 là có cơ sở.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, bà T7 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: khoản 02 Điều 201; điểm g khoản 01 Điều 52, điểm s khoản 01 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng).

* Căn cứ: khoản 02 Điều 201; điểm g khoản 01 Điều 52, điểm s khoản 01, khoản 02 Điều 51, Điều 35, Điều 58 Bộ luật hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Lê Huy A phạm tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

* Xử Phạt: Bị cáo Lê Huy A phải nộp số tiền 300.000.000 đ (Ba trăm triệu đồng) vào ngân sách nhà nước.

* Căn cứ: khoản 02 Điều 201; điểm g khoản 01 Điều 52; điểm s khoản 01 Điều 51, Điều 35, Điều 58 Bộ luật hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T3 phạm tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T3 phải nộp số tiền 200.000.000 đ (Hai trăm triệu đồng) vào ngân sách nhà nước.

* Căn cứ: khoản 02 Điều 201; điểm g khoản 01 Điều 52, điểm s khoản 1, khoản 02 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T5 phạm tội “cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T5 phải nộp số tiền 200.000.000 đ (Hai trăm triệu đồng) vào Ngân sách nhà nước.

2. Biện pháp tư pháp:

Áp dụng: điểm a, b khoản 01, khoản 02 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 02 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sựĐiều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự:

  • Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật dân sự cho bà Huỳnh Thị T7 với số tiền là 142.701.334 đồng và nộp lại số tiền 610.298.666 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
  • Buộc bị cáo Lê Huy A phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật dân sự cho bà Huỳnh Thị T7 với số tiền là 41.351.918 đồng và nộp lại số tiền 177.048.082 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
  • Buộc bị cáo Nguyễn Văn T3 phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật dân sự cho bà Huỳnh Thị T7 với số tiền là 17.723.822 đồng và nộp lại số tiền 75.894.178 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
  • Buộc bị cáo Nguyễn Minh T5 phải trả lại số tiền lãi vượt quá lãi suất 20% theo quy định của Bộ luật dân sự cho bà Huỳnh Thị T7 với số tiền là 85.097.854 đồng và và nộp lại số tiền 337.902.146 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
  • Buộc bà Huỳnh Thị T7 nộp lại số tiền 142.244.000 đồng là tiền gốc bà T7 còn nợ chưa trả cho các bị cáo H, A, T3 để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước
  • Buộc bà Huỳnh Thị T7 nộp lại số tiền 100.714.292 đồng là tiền gốc bà Huỳnh Thị T7 còn nợ chưa trả cho bị cáo T5 để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • Buộc bà Huỳnh Thị T7 phải trả cho bị cáo H 12.687.000 đồng;
  • Buộc bà Huỳnh Thị T7 phải trả cho bị cáo Anh 13.766.000 đồng;
  • Buộc bà Huỳnh Thị T7 phải trả cho bị cáo T3 5.896.000 đồng;
  • Buộc bà Huỳnh Thị T7 phải trả cho bị cáo T5 22.626.000 đồng.
  • Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu trắng của bị cáo H dùng liên hệ cho vay lãi nặng và 01 điện thoại di động hiệu Sam sung Galaxy M33 5 G màu xanh; số imei: 358243511905550 là điện thoại bị cáo T5 sử dụng cho vay lãi nặng.
  • Tiếp tục tạm giữ số tiền 280.000 đồng thu giữ của bị cáo H, số tiền 1.130.000 đồng thu giữ của bị cáo A, số tiền 14.490.000đồng thu giữ của bị cáo T5 để đảm bảo thi hành án.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 91 ngày 23/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết và Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.01054627 ngày 20/02/2024 tại kho bạc tỉnh Bình Thuận).

*Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn H, Lê Huy A, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Minh T5 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bà Huỳnh Thị T7 nộp 2.748.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo bản án của các bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( 30/8/2024). Quyền kháng cáo bản án của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.

Nơi nhân

  • - VKSND thành phố Phan Thiết;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an thành phố Phan Thiết;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND địa phương nơi b/c thường trú;
  • - Thi hành án thành phố Phan Thiết;
  • - Lưu hồ sơ.

TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

Vũ Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 183/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 183/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà Lê Thị Kiều O ly hôn với ông Nguyễn Thành T.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger