Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HS-ST

Ngày : 19/8/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Phi Yến
Ông Nguyễn Văn Lợi
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Tâm -
là thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 43/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2024/HSST-QĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng T sinh năm: 1994 tại TP HCM; Hộ khẩu thường trú: 2 V, Phường C, quận B, TP HCM; Nơi ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung T1 (chết) và bà Nguyễn Lệ Uyên T2; vợ: Tôn Pha Na G (chưa có con); tiền án: không; tiền sự: 01. Quyết định số 47/2022/QĐ-TA ngày 18/02/2022 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 25/01/2023. Nhân thân: Bản án 113/2012/HSST ngày 29/9/2012 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/6/2013, đóng án phí xong ngày 23/8/2016. Bản án số 42/2015/HSST ngày 27/3/2015 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và 01 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt là 06 năm tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/8/2019, đã đóng án phí xong ngày 04/9/2015. Bị bắt tạm giam ngày 13/10/2023 tại Nhà tạm giữ Công an quận P (có mặt).

- Người bị hại:

  • + Trẻ Hồ Đắc Hồng Minh sinh ngày: 10/8/2007
  • Địa chỉ: 3 P, Phường G, quận P, TP HCM.
  • (vắng mặt).
  • Người đại diện hợp pháp của trẻ M:
  • Ông Hồ Đắc H (sinh năm: 1976) - Cha ruột trẻ M.
  • Địa chỉ: 3 P, Phường G, quận P, TP HCM.
  • (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • + Ông Nguyễn Tấn T3 sinh năm: 2001
  • Địa chỉ: 1 T, Phường A, Quận C, TP HCM (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Nguyễn Ngọc L năm: 1985
  • Địa chỉ: 2 V, Phường C, quận B, TP HCM (vắng mặt).
  • + Bà Nguyễn Lệ Uyên T4 năm: 1972
  • Địa chỉ: 1 N, Phường C, quận B, TP HCM (có mặt).
  • + Ông Ngô Trương Bảo H1 sinh năm: 1985
  • Địa chỉ: Số B Đường B, Phường D, Quận D, TP HCM (vắng mặt).
  • + Ông Diệp M1 năm: 1961.
  • Địa chỉ: 3 B, Phường B, quận B, TP HCM (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 22/7/2023, Nguyễn Trọng T điều khiển xe máy hiệu Honda Wave RSX, màu đen - đỏ, biển số 59S1-704.92 chạy đến đường P - P để đi dạo. Khi đến trước nhà số C P, Phường G, quận P, T nhìn thấy trẻ Hồ Đắc Hồng M2 đang đứng trước cửa nhà, trên tay trẻ M2 đang cầm điện thoại hiệu Iphone 11 (128G) màu trắng. Do cần tiêu xài nên T đã nảy sinh ý định cướp điện thoại di động của trẻ M2.

T điều khiển xe máy chạy đến gần trẻ M2 và hỏi tìm giúp địa chỉ nhà nhằm mục đích tiếp cận tài sản. Sau đó, T ngồi trên xe và sử dụng tay trái lấy cây bút máy (hiệu Hero, ngòi nhọn bằng kim loại, không có nắp bút) để sẵn trong túi áo khoác đang mặc và ấn vào vùng bụng bên phải của trẻ M2 đe dọa và nói: “Mày đưa điện thoại đây”, đồng thời T dùng tay phải giật điện thoại nhưng bị hụt. Trẻ M2 dùng chân phải đạp vào người T và truy hô, do sợ bị bắt nên T đã tăng ga bỏ chạy quanh các đường hẻm gần đó, rồi vứt cây bút máy (không nhớ địa điểm) và về nhà ở địa chỉ 1 N, Phường C, quận B, TP. để cất xe máy rồi T bỏ nhà đi sinh sống ở nhiều nơi khác nhau.

Tối ngày 22/7/2023, ông Hồ Đắc H (cha ruột của trẻ M2) đến Công an P, quận P trình báo sự việc, qua trích xuất camera ghi lại hình ảnh, hành vi phạm tội mà T thực hiện, Công an tiến hành truy xét và triệu tập T đến Công an để làm rõ hành vi phạm tội.

Tại Cơ quan điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐGTS ngày 03/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 (128 GB), màu trắng, mua năm 2023, đã qua sử dụng trị giá 6.533.000 (sáu triệu năm trăm ba mươi ba ngàn) đồng.

Ngoài thực hiện hành vi cướp tài sản nêu trên thì T còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:

Khoảng 06 giờ 15 phút, ngày 15/8/2023, T về nhà ở địa chỉ 1 N, Phường C, quận B, TP HCM. T có chìa khóa mở cửa nhà, khi vào nhà thì không thấy ai. T thấy 01 xe Honda Click màu đen biển số 59M1-870.67 của ông Nguyễn Tấn T3 đang để ở nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe để bán lấy tiền tiêu xài. Do không có chìa khóa xe nên T dắt chiếc xe Honda Click biển số 59M1-870.67 đến đối diện chợ B gặp thợ sửa khóa (ông Diệp M3) để làm chìa khóa với giá 70.000 đồng.

Làm xong chìa khóa, T gọi điện thoại qua mạng xã hội Z cho bạn tên Hồng Q (chưa rõ nhân thân lai lịch) để nhờ bán xe. Q nói T chụp ảnh chiếc xe rồi gửi qua Zalo cho Q. Q cho Tâm địa đ bán xe ở quận T (T không nhớ rõ địa chỉ). Do không biết đường và cần người chở về nên T rủ bạn tên Thế H2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đi cùng, Thế H2 đồng ý. T điều khiển xe Honda Click vừa trộm được, Thế H2 đi xe hiệu Honda Wave của H2 (không rõ biển số) đến địa điểm Q chỉ ở quận T. Khi đến nơi, có một người đàn ông (không rõ lai lịch) đi bộ đến xem chiếc xe Honda Click biển số 59M1-870.67 rồi trả giá 5.000.000 (năm triệu) đồng thì T đồng ý bán. Nhận tiền xong Thế H2 chở T chở T về, T cho H2 500.000 (năm trăm ngàn) đồng tiền công. Số tiền còn lại 4.500.000 (bốn triệu năm trăm ngàn) đồng, T đã tiêu xài hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 233/KLĐGTS-TCKH ngày 16/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 xe gắn máy hiệu Honda Click, biển số 59M1 - 870.67 trị giá 19.000.000 (mười chín triệu) đồng.

Tại Cơ quan điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội trộm cắp tài sản như trên.

- Vật chứng của vụ án:

  • + 01 xe máy hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ - đen, biển số 59S1-704.92, số máy JC43E5620941, số khung RLHJC4326AY156966 (xe T sử dụng để thực hiện hành vi cướp tài sản).
  • + 01 chiếc xe Honda Click màu đen biển số 59M1-870.67 (không thu hồi được).
  • + 01 nón bảo hiểm màu đỏ có vành nón màu đen (T sử dụng khi thực hiện hành vi cướp tài sản).
  • + 01 áo thun ngắn tay màu trắng - xám có in hình chữ Reebok Gdf Club có vết thủng (là áo của bị hại trẻ Hồ Đắc Hồng M2 mặc khi bị T dùng bút máy ấn vào để đe doạ cướp tài sản).
  • + 02 USB ghi lại hình ảnh vụ cướp tài sản ngày 22/7/2023 và vụ trộm cắp tài sản ngày 15/8/2023.

- Về trách nhiệm dân sự:

  • + Trẻ Hồ Đắc Hồng M2 và người đại diện hợp pháp của trẻ M2 (ông Hồ Đắc H) không yêu cầu bồi thường về tài sản do bị cáo chưa cướp được tài sản.
  • Về vết thương xây xát da ở vùng bụng phải của trẻ M2, có chiều dài khoảng 3cm (do T dùng cây bút nhọn ấn vào): Trẻ Minh và người đại diện hợp pháp của trẻ M2 không yêu cầu bồi thường, không yêu cầu giám định về thương tích.
  • + Ông Nguyễn Tấn T3 yêu cầu bị cáo T bồi thường thiệt hại trị giá chiếc xe máy hiệu Honda Click, biển số 59M1 - 870.67 theo Kết luận định giá với số tiền 19.000.000 (mười chín triệu) đồng.

Tại Bản cáo trạng số 38/CT-VKSPN ngày 23/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng T về tội “Cướp tài sản” theo điểm d, e khoản 2 Điều 168 và tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận giữ quyền công tố và tranh luận:

Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ buộc tội và các tình tiết khác có trong hồ sơ vụ án, cũng như lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy:

Ngày 22/7/2023, bị cáo T đã có hành vi dùng cây bút máy (có ngòi viết bằng kim loại, là vật sắc nhọn) ấn vào bụng bên phải của trẻ M2 và uy hiếp trẻ M2 để cướp tài sản là 01 chiếc Iphone 11 (128G) màu trắng tại trước số C P, Phường G, quận P. Tuy nhiên, do T giật hụt nên chưa lấy được điện thoại. Theo kết luận của Hội đồng định giá thì chiếc điện thoại Iphone 11 (128G) màu trắng có giá trị 6.533.000 (sáu triệu năm trăm ba mươi ba ngàn) đồng. Do vậy, hành vi phạm tội của T đã cấu thành tội “Cướp tài sản” nhưng chưa đạt.

Ngoài ra, ngày 15/8/2023, bị cáo còn lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe Honda Click, biển số 59M1-870.67 màu đen của ông Nguyễn Tấn T3 để tại nhà số A N, Phường C, quận B, TP HCM. Theo kết luận định giá của Hội đồng định giá thì chiếc xe này có giá trị 19.000.000 (mười chín triệu) đồng.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Cướp tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d, e khoản 2 Điều 168; Điều 15; khoản 3 Điều 57 (áp dụng đối với tội Cướp tài sản); khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 6 (sáu) năm 06 (sáu) tháng đến 7 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp tài sản”, mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

  • Trẻ Hồ Đắc Hồng M2 và người đại diện hợp pháp của trẻ M2 không có yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Ông Nguyễn Tấn T3 yêu cầu bị cáo T bồi thường thiệt hại trị giá chiếc xe theo Kết luận của Hội đồng định giá với số tiền 19.000.000 (mười chín triệu) đồng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của ông T3.

- Người bị hại ông Nguyễn Tấn T3 trình bày:

Ông yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 19.000.000 (mười chín triệu) đồng theo Kết luận của Hội đồng định giá. Ngoài ra ông không có yêu cầu gì thêm.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Lệ Uyên T2 trình bày:

Bà là mẹ ruột của bị cáo T. Chiếc xe máy hiệu Honda Wave RSX, màu đen - đỏ, biển số 59S1-704.92 là của bà, bà nhờ em ruột là Nguyễn Ngọc L1 đứng tên trên giấy đăng ký xe. Ông L1 cũng có lời khai xác nhận đứng tên dùm bà. Quá trình điều tra Công an đã trả chiếc xe và nón bảo hiểm cho bà. Nay bà không có yêu cầu gì thêm.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Diệp M3 trình bày:

Ông là thợ sửa khóa ở chợ B, mỗi ngày có rất nhiều khách hàng đến làm chìa khóa. Ông không biết bị cáo mang xe đến làm chìa khóa là xe do phạm tội mà có. Nay ông không có ý kiến gì trình bày thêm.

- Bị cáo Nguyễn Trọng T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Đối với hành vi phạm tội mà bị cáo T thực hiện ngày 22/7/2023 thì người bị hại là trẻ Hồ Đắc Hồng M2 (sinh ngày 10/8/2007) mới 15 tuổi 11 tháng 19 ngày. Theo qui định của pháp luật thì trẻ M2 thuộc trường hợp được trợ giúp pháp lý (trẻ em, người dưới 16 tuổi). Tuy nhiên, trẻ M2 và người đại diện hợp pháp của trẻ M2 (ông Hồ Đắc H) từ chối được trợ giúp pháp lý trong suốt quá trình tố tụng. Việc từ chối là hoàn toàn tự nguyện nên tại phiên tòa không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho trẻ M2 là đúng quy định.

[3]. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra là phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đồng thời cũng phù hợp với các biên bản hoạt động điều tra, biên bản xác định địa điểm, biên bản ghi nhận sự việc, các bản ảnh trích xuất từ camera, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận của hội đồng định giá, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, với các tình tiết đã được chứng minh tại phiên tòa hôm nay đã có đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 22/7/2023, bị cáo T đã có hành vi dùng cây bút máy (có ngòi viết bằng kim loại, là vật sắc nhọn, không có nắp) ấn vào bụng bên phải của trẻ M2, uy hiếp trẻ M2 và nói “Mày đưa điện thoại đây” để cướp tài sản là 01 chiếc Iphone 11 (128G) màu trắng (có giá trị 6.533.000 đồng) tại trước số C P, Phường G, quận P. Đồng thời, bị cáo dùng tay phải giật điện thoại nhưng giật hụt nên điện thoại vẫn đang trên tay trẻ M2. Như vậy, đối với hành vi Cướp tài sản, bị cáo phạm tội ở giai đoạn chưa đạt, bị cáo bị áp dụng 02 tình tiết định khung hình phạt là “sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc dùng thủ đoạn nguy hiểm khác”, “phạm tội đối với người dưới 16 tuổi”.

Ngoài ra, ngày 15/8/2023, bị cáo còn lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 chiếc xe gắn máy hiệu Honda Click, biển số 59M1 - 870.67 có trị giá 19.000.000 đồng (mười chín triệu) đồng.

Do đó, có đủ cơ sở pháp lý để kết luận bị cáo đã phạm vào tội “Cướp tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, e khoản 2 Điều 168; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4]. Hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần có mức án nghiêm khắc, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
  • Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, đang có 01 tiền sự về cai nghiện bắt buộc, có 02 tiền án đã được xóa. Mặc dù, đây không phải là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng Hội đồng xét xử cũng cân nhắc khi quyết định hình phạt.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
  • Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

[5]. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng trong vụ án:

  • - Về trách nhiệm dân sự:
    • + Trẻ Hồ Đắc Hồng M2 và người đại diện hợp pháp của trẻ M2 (ông Hồ Đắc H) không yêu cầu bồi thường về tài sản do bị cáo chưa cướp được tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    • Về vết thương xây xát da ở vùng bụng phải của trẻ M2, có chiều dài khoảng 3cm (do T dùng cây bút nhọn ấn vào): Trẻ Minh và người đại diện hợp pháp của trẻ M2 không yêu cầu bồi thường, không yêu cầu giám định về thương tích nên Hội đồng xét xử không xem xét.
    • + Ông Nguyễn Tấn T3 yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại trị giá chiếc xe máy hiệu Honda Click, biển số 59M1 - 870.67 theo Kết luận của Hội đồng định giá với số tiền 19.000.000 (mười chín triệu) đồng. Yêu cầu về bồi thường thiệt hại của ông T3 là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  • - Về xử lý vật chứng:
    • + 01 xe máy hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ - đen, biển số 59S1-704.92, số máy JC43E5620941, số khung RLHJC4326AY156966: Đây là xe bị cáo dùng để thực hiện hành vi cướp tài sản. Qua xác minh cho thấy xe này do ông Nguyễn Ngọc L1 (cậu ruột của bị cáo) đứng tên trên giấy đăng ký xe. Ông L1 khai và xác nhận là ông đứng tên đăng ký xe dùm chị ruột là bà Nguyễn Lệ Uyên T2 (mẹ ruột của bị cáo). Bị cáo khai nhận xe máy mượn của mẹ ruột là bà T2 để đi công việc, bà T2 không biết bị cáo dùng xe để đi cướp tài sản. Cơ quan điều tra đã trả lại xe máy cho bà T2 là đúng quy định.
    • + 01 nón bảo hiểm màu đỏ có vành nón màu đen: Đây là nón bảo hiểm bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi cướp tài sản. Bị cáo khai nhận mượn của mẹ ruột là bà T2 để đi công việc. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T2 là đúng quy định.
    • + 01 áo thun ngắn tay màu trắng - xám có in hình chữ Reebok Gdf Club có vết thủng là áo của bị hại trẻ M2 mặc khi bị T dùng bút máy ấn vào để đe dọa cướp tài sản. Cơ quan điều tra đã trả lại cho trẻ M2 là đúng quy định.
    • + 01 chiếc xe Honda Click màu đen biển số 59M1-870.67: Bị cáo lấy trộm của ông T3 và mang đi bán không rõ lai lịch người mua nên không thu hồi được. Qua xác minh xe này do ông Ngô Trương Bảo H1 đứng tên sở hữu. Ông H1 xác nhận đã bán xe này cho ông T3, đã đưa xe và giấy tờ cho ông T3 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Do vậy, có căn cứ xác định ông T3 là chủ sở hữu và yêu cầu bị cáo bồi thường cho ông T3 là phù hợp.
    • + Đối với 02 USB có chứa dữ liệu vụ cướp tài sản ngày 22/7/2023 và vụ trộm ngày 15/8/2023: Cần lưu vào hồ sơ vụ án.

[6]. Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo không có nơi cư trú ổn định, sống lang thang, không nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Đối với đối tượng tên Hồng Q (giúp sức chỉ cho bị cáo địa điểm bán xe, không rõ nhân thân lai lịch), Thế H2 (là người chở bị cáo đi bán xe không rõ nhân thân lai lịch), đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, có cơ sở xử lý sau.

Đối với ông Diệp M3 (thợ sửa khóa), khi bị cáo dắt xe máy trộm được ra nhờ ông M3 làm chìa khóa, bị cáo không nói cho ông M3 biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên ông M3 không phải chịu trách nhiệm hình sự.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng T phạm tội “Cướp tài sản” (chưa đạt) và tội “Trộm cắp tài sản”.

- Căn cứ điểm d, e khoản 2 Điều 168; Điều 15; khoản 3 Điều 57 (áp dụng đối với tội Cướp tài sản); khoản 1 Điều 173; Điều 55; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng T 07 (bảy) năm tù về tội “Cướp tài sản” (chưa đạt) và 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung mà bị cáo phải chấp hành là 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2023.

- Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 357, 468, 586 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Buộc bị cáo Nguyễn Trọng T phải bồi thường cho ông Nguyễn Tấn T3 số tiền 19.000.000 (mười chín triệu) đồng.

- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp Cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày ông Nguyễn Tấn T3 có đơn yêu cầu bị cáo phải thi hành án khoản tiền bồi thường; nếu bị cáo chậm thi hành thì bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm 950.000 (chín trăm năm mươi ngàn) đồng.

- Bị cáo và người tham gia tố tụng có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND TP HCM;
  • - VKSND TP HCM;
  • - VKSND quận Phú Nhuận;
  • - Điều tra Tổng hợp CAQPN;
  • - Chi cục THADS QPN;
  • - Phòng PC 06;
  • - Sở Tư pháp TP HCM;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Bị cáo;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Thị Thu Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp tài sản (chưa đạt) và trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 68/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (chưa đạt) và Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cướp tài sản và trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger