1
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2023/HS-ST
Ngày: 18 – 8 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Điểu Kim Rương
2. Ông Trần Nhị Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Chang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai bằng hình thức trực tuyến; tại điểm cầu trung tâm là Hội trường A, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước; điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Bình Phước vụ án hình sự thụ lý số 60/2023/TLST-HS ngày 03/4/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HS ngày 25/7/2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn L, sinh năm 1993 tại: tỉnh Bình Phước.
Tên gọi khác: Ú; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12.
Nơi cứ trú: Tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Cha: Nguyễn Văn L1, sinh năm 1966, Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1967, cùng nơi cư trú: tại tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước; Bị cáo có 03 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất là bị cáo; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền sự: Không.
Tiền án: 01.
2
Ngày 29/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành (nay là thị xã C), tỉnh Bình Phước xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, tại Bản án số: 79/2022/HSST.
Ngày 05/6/2023 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra tại tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H bắt quả tang và bị tạm giữ.
Đến ngày 13/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố vụ án, khởi tố bị can và Lệnh tạm giam cho đến nay.
2. Lê Trung N, sinh năm 1997 tại: tỉnh Bình Phước.
Tên gọi khác: Đ;Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12.
Nơi cư trú: Tổ B, ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Cha: Lê Ngọc C, sinh năm 1976, Mẹ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1979 cùng nơi cư trú: tại tổ B, ấp T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; Bị cáo có 04 anh em ruột, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2003; Bị cáo có Vợ tên: Lâm Thị Kim T1, sinh năm 1997, nơi cư trú: Ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2019.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Ngày 05/6/2023 có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra tại tổ A, ấp B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H bắt quả tang và bị tạm giữ.
Đến ngày 13/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H khởi tố vụ án, khởi tố bị can và Lệnh tạm giam bị can cho đến nay.
Các Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn L và Lê Trung N là bạn bè quen biết nhau ngoài xã hội và đều có sử dụng ma túy tổng hợp. Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 05/6/2023, N đến nhà L chơi, quá trình nói chuyện N rủ L cùng góp tiền mua ma túy về để sử dụng thì L đồng ý, N góp 200.000 đồng và L đưa cho N số tiền 100.000 đồng. Sau đó L gọi điện thoại thông qua mạng xã hội Zalo cho một người thanh niên tên N2 ở khu vực ngã ba X, xã T, huyện H để hỏi mua ma túy với giá 300.000 đồng nhưng N2
3
nói hết ma túy nên L ngồi nói chuyện cùng với N và Hoàng Thị Mỹ D tại nhà của L.
Đến khoảng hơn 10 giờ cùng ngày, Lê Trung H điều khiển xe môtô, biển kiểm soát 93C1-352.87 đến nhà L chơi, khoảng một lúc sau thì người thanh niên tên N2 gọi điện thoại lại cho L nói đã có ma túy nên L nói cho N biết và N một mình điều khiển xe môtô, biển kiểm soát 93C1-352.87 đi mua ma túy của N2, khoảng 30 phút sau, N mua được 01 gói ma túy rồi quay về lại nhà của L.
Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, L nói N lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế có sẵn trong phòng L mang đi rửa, lau sạch để cùng sử dụng ma túy, sau đó N rửa nỏ thủy tinh xong thì lấy gói ma túy vừa mua được ra và bỏ một phần vào nỏ thủy tinh, phần còn lại để trên bàn rồi cả nhóm gồm: L, N, H và D cùng sử dụng ma túy bằng cách hút tại phòng ngủ của L; N là người sử dụng ma túy trước rồi đến L, sau đó đến lượt Lê Trung H và Hoàng Thị Mỹ D, sau đó 04 người vừa xoay tua sử dụng ma túy vừa nói chuyện và sử dụng điện thoại cá nhân, đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện H đến kiểm tra, phát hiện L, N, H, D đang cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn L, Lê Trung N và thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên.
Căn cứ Kết luận giám định số: 612/KL-KTHS ngày 12/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- - Chất màu trắng đục (ký hiệu M) bám dính trong ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,0863 gam.
- - Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) bên trong gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,0766 gam.
Vật chứng thu giữ của vụ án:
01 (một) ống nỏ thủy tinh có một đầu là bầu tròn, bên trong bầu tròn có bám dính chất màu trắng đục (nghi là chất ma túy); 01 (một) gói nylon trong suốt hàn kín có kích thước chiều dài 2,8cm x 1,5cm đựng chất dạng tinh thể màu trắng bên trong (nghi là chất ma túy); 01 (một) xe môtô hiệu Suzuki Satria, biển số 93C1-352.87; 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG Galaxy A03S màu xanh đen, màn hình cảm ứng bị nứt vỡ; 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG SMG-A13 Galaxy, màn hình cảm ứng bị nứt vỡ; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự
4
chế gồm 01 vỏ chai nhựa không nhãn mác có nắp nhựa màu đỏ, trên nắp có đục 02 lỗ tròn; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) kéo bằng kim loại dài 15cm, trên thân kéo có chữ Thanh Sơn; 01 (một) quẹt ga màu xanh không nhãn mác; 01 (một) quẹt ga bị hỏng không nhãn mác màu xanh trắng; 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng, dài 2,6cm, một đầu cắt vát nhọn; 01 (một) vỏ gói nylon hàn kín ba đầu, có kích thước 1,8cm x 1,2 cm; 02 (hai) nỏ thủy tinh có cùng kích thước dài 07cm.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 24/7/2023 truy tố các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Bị cáo Nguyễn Văn L:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 08 (T2) năm đến 08 (T2) năm 06 (S) tháng tù. Chuyển 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo của bản án số 79/2022/HSST ngày 29/8/2022 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” của Tòa án nhân dân huyện Chơn thành (nay là thị xã C), tỉnh Bình Phước thành 03 (Ba) năm tù.
Áp dụng Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Buộc Bị cáo Nguyễn Văn L phải chấp hành chung của 02 bản án với hình phạt chung là từ 11 (Mười một) năm đến 11 (Mười một) năm 06 (S) tháng tù.
-Bị cáo Lê Trung N:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lê Trung N mức án từ 07 (Bảy) năm đến 07 (Bảy) năm 06 (S) tháng tù.
Các bị cáo tranh luận: Các bị cáo không tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đề nghị Xử lý vật chứng vụ án:
5
Đối với 0,0863 gam chất ma túy loại Methamphetamine bám dính trong nỏ thủy tinh của bộ D1 sử dụng ma túy. M đã sử dụng hết trong quá trình giám định nên không đề cập xử lý. 01 bì thư niêm phong ghi mẫu hoàn lại sau giám định vụ số: 612M1, ngày 06/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B có chữ ký xác nhận niêm phong của Giám định viên Nguyễn Văn H1, cán bộ Hồ Văn B, người chứng kiến Lê Trung N và dấu mộc đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành; Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị TAND huyện Hớn Quản tuyên tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật. Điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A03S màu xanh đen, khi bắt quả tang đã thu giữ của Nguyễn Văn L. Quá trình điều tra xác định, điện thoại trên do L sử dụng làm công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội; Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị TAND huyện Hớn Quản tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định của pháp luật. Điện thoại hiệu SamSung Galaxy A13 màu đen, thu giữ của Lê Trung N. Đây là tài sản cá nhân của bị can, không phải là công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội; Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị TAND huyện Hớn Quản tuyên trả lại cho bị cáo Lê Trung N theo quy định của pháp luật. Xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria biển số: 93C1-352.87. Xe trên do anh Lê Trung H đứng tên chủ sở hữu hợp pháp. Vào ngày 03/6/2023, H đã cho Lê Trung N mượn xe môtô trên làm phương tiện đi lại. Anh Lê Trung H không biết Lê Trung N đã sử dụng xe môtô trên để đi mua ma túy vào ngày 05/6/2023; Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe môtô trên cho anh Lê Trung H, vì vậy Viện kiểm sát không đề cập đến. 02 nỏ thủy tinh có cùng kích thước dài 07cm; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế; 01 quẹt ga màu xanh không nhãn mác; 01 quẹt ga bị hỏng không nhãn mác màu xanh trắng; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 2,6cm, một đầu cắt vát nhọn; 01 vỏ gói nylon hàn kín ba đầu, có kích thước 1,8cm x 1,2 cm; 01 kéo bằng kim loại dài 15cm, trên thân kéo có chữ T, những đồ vật trên không có giá trị; Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị TAND huyện Hớn Quản tuyên tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
6
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
[2] Tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Văn L và Lê Trung N khai nhận toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 24/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản quả tang, Kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa. Kết luận như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 05/6/2023, Nguyễn Văn L và Lê Trung N đã cùng nhau góp được số tiền 300.000 đồng để đi mua một gói ma túy về sử dụng. Sau khi mua được ma túy thì Nguyễn Văn L, Lê Trung N, Lê Trung H và Hoàng Thị Mỹ D vào phòng ngủ tại nhà của L để cùng nhau sử dụng ma túy. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện H đến kiểm tra, phát hiện L, N, H, D đang cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan CSĐT Công an huyện H tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn L, Lê Trung N và thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên.
Căn cứ Kết luận giám định số: 612/KL-KTHS ngày 12/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- - Chất màu trắng đục (ký hiệu M) bám dính trong ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,0863 gam.
- - Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) bên trong gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,0766 gam.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, tạo điều kiện thuận lợi cho những đối tượng khác sử dụng trái phép chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, đồng thời là mầm mống của các tệ nạn xã hội khác. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn; các bị cáo cùng nhau chuẩn bị địa diểm, dụng cụ và ma túy để mình và các đối tượng khác sử dụng nên không ai là chủ mưu, xúi dục, lôi kéo nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình gây ra.
7
Các bị cáo là người đã thành niên và hoàn toàn nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện để thỏa mãn nhu cầu của bản thân và bạn bè, cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử lý nghiêm đối với các bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn L khi phạm tội đã có một tiền án: Ngày 29/8/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành (nay là thị xã C), tỉnh Bình Phước xử phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, tại Bản án số: 79/2022/HSST nên phạm tội lần này bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm; bị cáo đã từng bị xét xử về hành vi phạm tội, đang chấp hành án nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội nên cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc để cải tạo bị cáo biết tuân thủ pháp luật và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tạn điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Khi phạm tội lần này bị cáo đã bị xử phạt tù cho hưởng án treo và đang trong thời gian chấp hành án phạt tù cho hưởng án treo trên chuyển thành tù có thời hạn và tổng hợp với hình phạt lần này và buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án.
Đối với bị cáo Lê Trung N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là khành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên cần cem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Trên cơ sở đó, Cáo trạng số 64/CT-VKS ngày 24/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo Nguyễn Văn L và Lê Trung N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề xuất mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Đối với Lê Trung H và Hoàng Thị Mỹ D quá trình điều tra: Căn cứ tài liệu thu thập được xác định D và H chỉ là người được L, N cho cùng tham gia sử dụng chất ma túy vào trưa ngày 05/6/2023, H và D không góp tiền hay giúp sức gì cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của Lê Trung H và Hoàng Thị Mỹ D không phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng phải bị xử phạt hành chính, vì
8
vậy ngày 03/7/2023, Công an huyện H đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Lê Trung H và Hoàng Thị Mỹ D về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với nam thanh niên tên N2 đã bán ma túy cho Nguyễn Văn L và Lê Trung N: Quá trình xác minh thu thập tài liệu không xác định được nhân thân, lai lịch của nam thanh niên tên N2 nên không có cơ sở đề nghị xử lý.
[4] Xử lý vật chứng vụ án:
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng là phù hợp với quy định pháp luật và tình tiết của vụ án nên chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Vụ án không phát sinh vấn đề dân sự.
[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn L (Ú) và Lê Trung N (Đen) phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
- Bị cáo Nguyễn Văn L:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h Điều 52, các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 08 (T2) năm tù. Thời gian tính tù từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 05/6/2023.
Áp dụng khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chấp hành hình phạt chuyển từ 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo của bản án số 79/2022/HSST ngày 29/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành (nay là thị xã C), tỉnh Bình Phước về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ thành 03 (Ba) năm tù.
Áp dụng Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chấp hành chung của 02 bản án với hình phạt chung là 11(Mười một) năm tù. Thời gian tính tù từ ngày 05/6/2023.
- Bị cáo Lê Trung N:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
9
Xử phạt bị cáo Lê Trung N 07 (B1) năm tù. Thời hạn tính tù từ ngày bắtt tạm giữ, tạm giam, ngày 05/6/2023.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về vật chứng vụ án:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- Số lượng Ma túy thu giữ đã dùng làm mẫu để giám định hết.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong ghi mẫu hoàn lại sau giám định vụ số: 612M1, ngày 06/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B có chữ ký xác nhận niêm phong của Giám định viên Nguyễn Văn H1, cán bộ Hồ Văn B, người chứng kiến Lê Trung N và dấu mộc đỏ của Phòng K Công an tỉnh B; 02 nỏ thủy tinh có cùng kích thước dài 07cm; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế; 01 quẹt ga màu xanh không nhãn mác; 01 quẹt ga bị hỏng không nhãn mác màu xanh trắng; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng dài 2,6cm, một đầu cắt vát nhọn; 01 vỏ gói nylon hàn kín ba đầu, có kích thước 1,8cm x 1,2 cm; 01 kéo bằng kim loại dài 15cm, trên thân kéo có chữ T, những đồ vật trên không có giá trị.
- Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước: 01 Điện thoại di động hiệu SamSung Galaxy A03S màu xanh đen, khi bắt quả tang đã thu giữ của Nguyễn Văn L. Quá trình điều tra xác định, điện thoại trên do L sử dụng làm công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.
- Trả lại cho bị cáo Lê Trung N điện thoại hiệu SamSung Galaxy A13 màu đen, thu giữ của Lê Trung N. Đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không phải là công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội.
(Vật chứng được miêu tả theo Quyết định chuyển vật chứng số 42/QĐ-VKS ngày 24/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước và theo như mô tả của biên bản giao nhận vật chứng số 0005920 ngày 27/7/2023 giữa cơ quan Hỗ trợ tư pháp và Thi hành án hình sự và chi Chi cục thi hành án dân sự huyện Hớn Quản).
4. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn,
10
giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Các bị cáo Nguyễn Văn L và Lê Trung N, mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận :
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Đình Học |
Bản án số 68/2023/HS-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 68/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tù có thời hạn
