|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2024/DS-ST
Ngày: 18/7/2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lương Văn Cẩu;
- Ông Trần Thành Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Thu Hồng Em - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2024/QĐXX-ST ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 164/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần K
Trụ sở: số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M – chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Trung V – chức vụ: Phó Tổng Giám đốc. (Theo Quyết định ủy quyền số 3366/QĐ-NHKL ngày 21/8/2023)
Ông Lê Trung V uỷ quyền lại cho:
- Ông Danh T – Chuyên viên xử lý nợ – Phòng xử lý nợ. Địa chỉ: số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. SĐT: 0941.688.xxx (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
2
- Ông Bùi Vĩnh T1, sinh năm 1986 – Chuyên viên xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ. Địa chỉ: số C đường N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang. SĐT: 0907.601.xxx (vắng mặt)
- Ông Trần Thanh V1, sinh năm 1983 – Chuyên viên xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ; Địa chỉ: số B đường P, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. (vắng mặt)
- Ông Phạm Đông X – Chuyên viên xử lý nợ – Phòng xử lý nợ. Địa chỉ: Lô B, B L, khóm C, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. SĐT: 0902.064.xxx (vắng mặt)
- Ông Nguyễn Khoa H, sinh năm 1984 - Chuyên viên xử lý nợ khu vực – Phòng xử lý nợ; Địa chỉ: Lô B, B L, khóm C, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. SĐT: 09639999xxx. (vắng mặt)
Theo quyết định ủy quyền số 510/QĐ-NHKL ngày 23/02/2024.
2. Bị đơn:
2.1 Ông Dương Văn T2, sinh năm 1973; (vắng mặt)
2.2 Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1981; (vắng mặt)
Cùng cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Anh Dương Văn L, sinh năm 2004; (vắng mặt)
3.2 Em Dương Thi Xuân M1, sinh năm 2007; (vắng mặt)
3.3 Em Dương Thị Mai X1, sinh năm 2015; (vắng mặt)
* Đại diện theo pháp luật của em Xuân M1, em Mai X1: ông Dương Văn T2, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1981; (vắng mặt)
Cùng cư trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K do Bùi Vĩnh T1 làm đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N có đến Ngân hàng TMCP K vay tổng số tiền 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng) theo Hợp đồng tín dụng từng lần số: 35.01/21/HĐTD/1203-8615 ngày 21/01/2021, cụ thể như sau:
- Số tiền vay: 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng);
- Mục đích vay: bổ sung vốn mở rộng diện tích đất trồng lúa.
- Thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên.
- Ngày giải ngân: 21/01/2021.
- Lãi suất vay: 12.9% năm áp dụng đối với các KUNN giải ngân trong vòng 03 tháng kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng này. Các KUNN giải ngân sau thời gian
3
này, lãi suất cho vay (=) lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng, lãnh lãi cuối kỳ tại thời điểm thay đổi lãi suất (+) 3,8%/năm và không được thấp hơn LSV tối thiểu hiện hành của biểu lãi suất cho vay tại thời điểm điều chỉnh (cùng loại hình và phương thức cho vay). Lãi suất vay được cố định trong 03 tháng kể từ ngày giải ngân theo từng KUNN.
- Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
- Mức phạt chậm trả lãi: 10%/năm.
- Hình thức thanh toán: Lãi trả hàng tháng, gốc trả cuối kỳ.
Hợp đồng tín dụng nêu trên được bảo đảm bởi hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắn liền với đất số: 35/21/HĐTC-BĐS/1203-8615 ngày 21/01/2021, được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh An Giang ngày 07/5/2021, tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay gồm:
- Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số: AM 793454, số vào sổ cấp GCN H07285fG do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 13/01/2009, tổng diện tích 211,4m², thửa đất số 146, tờ bản đồ số 06, mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn (80m²), đất trồng cây lâu năm (131,4m²) thời hạn sử dụng: lâu dài, đứng tên ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N.
- Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số: BV 041704, số vào sổ cấp GCN CH08089 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 10/3/2015, tổng diện tích 104,6m², thửa đất số 165, tờ bản đồ số 06, mục đích sử dụng: đất ở (15.0m²), đất trồng cây lâu năm (89,6m²), đứng tên ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N.
Hai diện tích đất trên đều tọa lạc tại: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. Tài sản thế chấp nêu trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyên C, tỉnh An Giang ngày 21/01/2021.
Trong quá trình vay vốn, ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N liên tục vi phạm hợp đồng, không thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP K khi đến hạn, ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thi N không thanh toán nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng và hiện tại hợp đồng đã quá hạn thanh toán nhưng ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N vẫn chưa thanh toán dứt nợ cho ngân hàng theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký.
Tạm tính đến ngày 06/5/2024, ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N còn nợ Ngân hàng TMCP K tổng số tiền là:
- Vốn gốc: 160.000.000 đồng;
- Lãi trong hạn: 13.854.246 đồng;
- Lãi quá hạn: 71.080.767 đồng;
- Tiền phạt chậm trả lãi: 3.413.265 đồng;
- Tổng cộng: 248.348.278 đồng.
Căn cứ Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 35.01/21/HĐTD/1203-8615 ngày 21/01/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K – Phòng G với ông Dương
4
Văn T2 và bà Nguyễn Thị N; Căn cứ Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 35/21/HĐTC-BĐS/1203-8615 ngày 21/01/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K – Phòng G với ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N; Căn cứ các quy định pháp luật hiện hành. Ngân hàng TMCP K khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết bao gồm:
- Yêu cầu ông Dương Văn T2, bà Nguyễn Thị N trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền tạm tính đến ngày 06/5/2024 là 248.348.278 đồng (Hai trăm bốn mươi tám triệu, ba bốn mươi tám ngàn, hai trăm bảy mươi tám đồng) và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng từng lần số: 35.05/21/HĐTD/1203-8615 ngày 21/01/2021 cho đến khi thanh toán dứt nợ.
- Trường hợp ông Dương Văn T2, bà Nguyễn Thị N không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận hoặc khi bản án có hiệu lực thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng K, tài sản bao gồm:
- Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số AM 793454, số vào sổ cấp GCN H07285fG do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 13/01/2009, tổng diện tích 211,4m², thửa đất số 146, tờ bản đồ số 06, mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn (80m²), đất trồng cây lâu năm (131,4m²) thời hạn sử dụng: lâu dài, đứng tên ông Dương Văn T2, bà Nguyễn Thị N.
- Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số BV 041704, số vào sổ cấp GCN CH08089 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 10/3/2015, tổng diện tích 104,6m², thửa đất số 165, tờ bản đồ số 06, mục đích sử dụng: đất ở (15.0m²), đất trồng cây lâu năm (89,6m²), đứng tên ông Dương Văn T2, bà Nguyễn Thị N.
Hai diện tích đất trên đều tọa lạc tại: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.
* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 02/4/2024 bị đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
Bà và ông Dương Văn T2 có vay tiền của Ngân hàng TMCP K số nợ gốc là 160.000.000 đồng, có ký Hợp đồng tín dụng số: 35.01/21/HĐTD/1203-8615 ngày 21/01/2021 với Ngân hàng. Mục đích vay là để bổ sung vốn mở rộng diện tích đất trồng lúa. Thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân đầu tiên. Lãi suất vay được thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng nêu trên, gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn và tiền phạt chậm trả. Ngân hàng đã giải ngân cho vợ chồng bà đủ số tiền vay là 160.000.000 đồng.
Để bảo đảm cho khoản vay bà và ông T2 đã thế chấp tài sản gồm: Quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số AM 793454, số vào sổ cấp GCN H07285fG do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 13/01/2009, tổng diện tích 211,4m², thửa đất số 146, tờ bản đồ số 06 và quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận số BV 041704, số vào sổ cấp GCN CH08089 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 10/3/2015, tổng diện tích 104,6m², thửa đất số 165, tờ bản đồ số 06, các quyền sử dụng đất nêu trên đều đứng tên bà và ông Dương Văn T2. Hai diện tích đất đều tọa lạc tại: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định pháp luật. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng
5
TMCP K, bà có ý kiến như sau: Bà và ông T2 đồng ý trả số tiền gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn và phạt chậm trả theo yêu cầu khởi kiện của ngân hàng, tuy nhiên do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên đề nghị phía ngân hàng cho vợ chồng bà đến cuối năm nay sẽ thanh toán toàn bộ gốc, lãi cho ngân hàng nếu có tiền sẽ thanh toán sớm hơn cho Ngân hàng TMCP K.
* Toà án đã nhiều lần triệu tập bị đơn ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dương Văn L, em Dương Thị Xuân M1, em Dương Thị Mai X1 để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, cũng như tham gia phiên toà nhưng ông T2, bà N, anh L, em Xuân M1, Mai X1 đều vắng mặt không có lý do, đồng thời ông T2, anh L, em Xuân M1, Mai X1 cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa,
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Danh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn Ngân hàng TMCP K vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện:
- Yêu cầu ông Dương Văn T2, bà Nguyễn Thị N trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/7/2024 là 254.640.127 đồng (Hai trăm năm mươi bốn triệu, sáu trăm bốn mươi ngàn, một trăm hai mươi bảy đồng) và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nêu trên cho đến khi thanh toán dứt nợ.
- Duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và/hoặc tài sản gắn liền với đất số 35/21/HĐTC-BĐS/1203-8615 ngày 21/01/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K – Phòng G với ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N với nội dung: Trường hợp ông ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N không trả hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận hoặc khi bản án có hiệu lực thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP K.
- Buộc ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N phải chịu toàn bộ án phí và các chi phí tố tụng khác có liên quan trong vụ án này.
- Bị đơn ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dương Văn L, em Dương Thị Xuân M1, em Dương Thị Mai X1 đều vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.
6
- Về việc giải quyết vụ án: Bị đơn ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP K làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của nguyên đơn, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thi N phải trả số tiền gốc, lãi, tiền phạt chậm trả tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 254.640.127 đồng và phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số: 35.05/21/HĐTD/1203-8615 ngày 21/01/2021 cho đến khi trả hết nợ; tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp tài sản số: 35/21/HĐTC-BĐS/1203-8615 ngày 21/01/2021 để đảm bảo thi hành án.
Về án phí, hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí đã nộp, bị đơn bà N và ông T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP K và ông Dương Văn T2, bà Nguyễn Thị N được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: ông Dương Văn T2, bà Nguyễn Thị N hiện có nơi cư trú tại ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:
Bị đơn ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dương Văn L, em Dương Thị Xuân M1 và em Dương Thị Mai X1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K thấy:
[2.1] Về nghĩa vụ trả nợ:
Căn cứ bản sao hợp đồng tín dụng số: 35.01/21/HĐTD/1203-8615 ngày 21/01/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K – Phòng G với ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N có chữ ký, chữ viết của ông Dương Văn T2, dấu vân tay của bà Nguyễn Thị N và đại diện Ngân hàng TMCP K là ông Vương Văn N1, do đó có đủ cơ sở xác định ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N có vay của Ngân
7
hàng TMCP K số tiền 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng); Mục đích vay: bổ sung vốn mở rộng diện tích đất trồng lúa.
Xét thấy, sự thoả thuận giữa Ngân hàng TMCP K và ông T2, bà N là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung của thoả thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên được xem là hợp pháp, qua đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng thì ông T2, bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP K. Việc ông T2, bà N không trả tiền vay cho Ngân hàng TMCP K đã vi phạm thoả thuận, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng TMCP K, do đó việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền gốc là 160.000.000 đồng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những nhận định trên, căn cứ vào Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K, buộc ông T2, bà N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền là 160.000.000 đồng.
[2.2] Về lãi suất, phạt chậm trả:
Căn cứ hợp đồng tín dụng số: 35.01/21/HĐTD/1203-8615 ngày 21/01/2021 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP K và ông T2, bà N xác định lãi suất cho vay (VND): 12.9% năm áp dụng đối với các KUNN giải ngân trong vòng 03 tháng kể từ ngày ký hợp đồng tín dụng này. Các KUNN giải ngân sau thời gian này, lãi suất cho vay (=) lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng, lãnh lãi cuối kỳ tại thời điểm thay đổi lãi suất (+) 3,8%/năm và không được thấp hơn LSV tối thiểu hiện hành của biểu lãi suất cho vay tại thời điểm điều chỉnh (cùng loại hình và phương thức cho vay). Lãi suất vay được cố định trong 03 tháng kể từ ngày giải ngân theo từng KUNN; Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất vay tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Mức phạt chậm trả lãi: 10%/năm.
Quá trình thực hiện ông T2, bà N đã vi phạm hợp đồng, từ đó Ngân hàng TMCP K yêu cầu tính lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng với số tiền là 90.957.369 đồng, bao gồm: lãi trong hạn là 13.854.246 đồng và lãi quá hạn là 77.103.123 đồng và tiền phạt chậm trả là: 3.682.758 đồng, đồng thời yêu cầu ông T2, bà N tiếp tục trả lãi phát sinh kể từ ngày xét xử sơ thẩm đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký là phù hợp với quy định tại Điều 357, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự, Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng, khoản 3 Điều 2 của Hợp đồng tín dụng số 35.01/21/HĐTD/1203-8615 ngày 21/01/2021 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Về biện pháp bảo đảm:
Ngày 21/01/2021 Ngân hàng TMCP K và ông T2, bà N ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 35/21/HĐTC-BĐS/1203-8615 với nội dung: thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 211,4m², thửa đất số 146, tờ bản đồ số 06 theo giấy chứng nhận số AM 793454, số vào sổ cấp GCN H07285fG do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 13/01/2009 và quyền sử dụng đất tổng diện tích 104,6m², thửa đất số 165, tờ bản đồ số 06 theo giấy chứng nhận số BV 041704, số vào sổ cấp
8
GCN CH08089 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 10/3/2015 đều cho ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N để đảm bảo cho hợp đồng tín dụng số: 35.01/21/HĐTD/1203-8615 ngày 21/01/2021 và các hợp đồng tín dụng khác ký giữa ông T2, bà N và Ngân hàng TMCP K trong khoảng thời gian từ ngày hợp đồng thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm đến ngày 21/01/2026 có dẫn chiếu đến hợp đồng thế chấp này. Căn cứ Điều 8a Nghị định 163/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, được bổ sung bởi Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ thì việc ký kết hợp đồng bảo đảm nghĩa vụ phát sinh hiện tại và trong tương lai giữa Ngân hàng TMCP K và ông T2, bà N là đúng quy định pháp luật. Hai bên đã tiến hành đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất tại Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện C ngày 21/01/2021 nên hợp đồng thế chấp có hiệu lực kể từ thời điểm được đăng ký và có giá trị pháp lý ràng buộc giữa các bên.
Do đó, trường hợp ông Dương Văn T2, bà Nguyễn Thị N thanh toán không đầy đủ hoặc không thanh toán nợ của hợp đồng tín dụng số: 35.01/21/HĐTD/1203-8615 ngày 21/01/2021 thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành xử lý các tài sản đảm bảo theo quy định pháp luật để thu hồi nợ bao gồm:
- Quyền sử dụng đất diện tích 211,4m², thửa đất số 146, tờ bản đồ số 06 theo giấy chứng nhận số AM 793454, số vào sổ cấp GCN H07285fG do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 13/01/2009 cấp cho ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N.
- Quyền sử dụng đất tổng diện tích 104,6m², thửa đất số 165, tờ bản đồ số 06 theo giấy chứng nhận số BV 041704, số vào sổ cấp GCN CH08089 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 10/3/2015 cấp cho ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thi N.
[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Căn cứ Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thi N phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng). Số tiền này nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên cần buộc bị đơn ông T2, bà N hoàn trả lại cho nguyên đơn.
[4] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên Ngân hàng TMCP K được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn ông T2, bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
9
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323, Điều 327; Điều 357, Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự;
Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng;
Điều 8a Nghị định 163/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, được bổ sung bởi Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần K.
Buộc ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần K số tiền vốn gốc là 160.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi triệu đồng) và tiền lãi, tiền phạt chậm trả là 94.640.127 đồng (Chín mươi bốn triệu, sáu trăm bốn mươi ngàn, một trăm hai mươi bảy đồng). Tổng số tiền vốn gốc và lãi, phạt chậm trả phải trả tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm (18/7/204) là 254.640.127 đồng (Hai trăm năm mươi bốn triệu, sáu trăm bốn mươi ngàn, một trăm hai mươi bảy đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số: 35.01/21/HĐTD/1203-8615 ngày 21/01/2021 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần K với ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N.
2. Về tài sản thế chấp: Trường hợp ông Dương Văn T2, bà Nguyễn Thị N thanh toán không đầy đủ hoặc không thanh toán nợ của hợp đồng tín dụng số: 35.01/21/HĐTD/1203-8615 ngày 21/01/2021 thì Ngân hàng TMCP K có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành xử lý các tài sản đảm bảo theo quy định pháp luật để thu hồi nợ bao gồm:
- Quyền sử dụng đất diện tích 211,4m², thửa đất số 146, tờ bản đồ số 06 theo giấy chứng nhận số AM 793454, số vào sổ cấp GCN H07285fG do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 13/01/2009 cấp cho ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N.
- Quyền sử dụng đất tổng diện tích 104,6m², thửa đất số 165, tờ bản đồ số 06 theo giấy chứng nhận số BV 041704, số vào sổ cấp GCN CH08089 do Ủy ban
10
nhân dân huyện C cấp ngày 10/3/2015 cấp cho ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thi N.
3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N phải trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền là 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng).
4. Về án phí sơ thẩm:
Ngân hàng thương mại cổ phần K được nhận lại số tiền 5.721.000 đồng (Năm triệu, bảy trăm hai mươi mốt ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004462 ngày 02/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
Ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thị N phải chịu 12.732.006 đồng (Mười hai triệu, bảy trăm ba mươi hai ngàn, không trăm lẻ sáu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần K và bị đơn ông Dương Văn T2 và bà Nguyễn Thi N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Kim Quyên |
Bản án số 68/2024/DS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 68/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu ông Dương Văn T2, bà Nguyễn Thị N trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền tạm tính đến ngày 06/5/2024 là 248.348.278 đồng (Hai trăm bốn mươi tám triệu, ba bốn mươi tám ngàn, hai trăm bảy mươi tám đồng) và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng từng lần số: 35.05/21/HĐTD/1203-8615 ngày 21/01/2021 cho đến khi thanh toán dứt nợ.
