Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HS-ST

Ngày: 18-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thanh Tiền

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Lâm Văn Vô

Bà Trần Thị Tuyết

Thư ký phiên tòa:

Tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm – Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại điểm cầu thành phần (Nhà tạm giữ Công an Q): Ông Phan Văn D - Thư ký Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm: Ông Nguyễn Quang Đ - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử (trực tuyến) sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 72/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Thanh H, sinh năm 1978 tại Sóc Trăng; giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: T, xã M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở: Không nơi ở nhất định; Nghề nghiệp: Không; Học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn C; con bà: Nguyễn Thị N; Chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 08/9/2022 bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 23/10/2023 đã chấp hành xong hình phạt tù (đã chấp hành xong bản án); Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 21/12/2012 bị Ủy ban nhân dân tỉnh S ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục với thời gian 18 (mười tám) tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 04/7/2022 bị Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản với số tiền 2.500.000 đồng.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2023 (có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 21/11/2023, Trần Thanh H một mình đi bộ vào Bệnh viện Đại học y dược Thành phố H, địa chỉ số B Hồ N, Phường A, Quận E tìm người có tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến tầng trệt khu A (khu vực đăng ký lấy số khám bệnh), H phát hiện bà Nguyễn Thị L đang đứng tại quầy lấy số khám bệnh và để một túi xách màu đen ở nền gạch dưới chân nên H đứng quan sát chờ cơ hội thuận lợi để trộm cắp. Lúc này, ông Trần Thiện T là bảo vệ bệnh viện đang trực tại khu vực trên thấy H có biểu hiện nghi vấn nên theo dõi. Bà L sau khi lấy số đăng ký xong quay đi (không lấy túi xách) thì H đến gần dùng tay trái lấy trộm túi xách của bà L rồi bỏ đi về hướng cổng Bệnh viện định tẩu thoát, ông T nhìn thấy toàn bộ sự việc nên chạy bộ đuổi theo bắt giữ H cùng vật chứng chuyển giao đến Công an P, Quận E lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, qua kiên tra túi xách của bà L bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax và số tiền 500.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Trần Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, 256GB, đã qua sử dụng; 01 (một) túi xách màu đen; số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng); 01 (một) balo; 01 (một) áo sơ mi ngắn tay; 01 (một) quần Kaki màu đen; 01 (một) USB chứa dữ liệu camera ghi nhận sự việc trộm cắp tài sản.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 129/KL-HĐĐGTS ngày 11 tháng 12 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân Quận E kết luận: Điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, 256GB, đã qua sử dụng, tỷ lệ mới 95% vào thời điểm định giá tháng 11 năm 2023 trị giá 26.000.000 đồng/chiếc (hai mươi sáu triệu đồng). Túi xách màu đen do không có hóa đơn và thông tin về kích thước, nhãn hiệu, chất liệu nên không có cơ sở định giá.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị L đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu bồi thường.

Bản cáo trạng số: 66/CT-VKS ngày 16/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Thanh H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm h, s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Thanh H với mức án từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết; về vật chứng xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, không tranh luận và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa công khai, bị cáo Trần Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Trần Thanh H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 cái túi xách màu đen bên trong có 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, 256GB và số tiền 500.000 đồng của bà Nguyễn Thị L. Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự kết luận, chiếc điện thoại di động nêu trên trị giá 26.000.000 đồng (hai mươi sáu triệu đồng), còn túi xách màu đen thì không có cơ sở định giá. Như vậy, tổng giá trị tài sản mà bị cáo H chiếm đoạt là 26.500.000 đồng (hai mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Do đó, hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xét bị cáo là người trưởng thành, có đủ khả năng nhận biết được hành vi của mình, biết hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bản thân bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích và có nhân thân xấu về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật chưa tốt.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Do đó, cần phải có một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; nhằm mục đích giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội có 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại xem như chưa gây thiệt hại; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử lý về hành vi chiếm đoạt tài sản và có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật chưa tốt, bản án xét xử các lần trước chưa đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo phạm tội nhưng khó khăn về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.

[8] Về vật chứng:

Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax, 256GB, đã qua sử dụng; 01 (một) túi xách màu đen; số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), Cơ quan Công an đã thu hồi trả lại cho bị hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Xét 01 (một) balo; 01 (một) áo sơ mi ngắn tay; 01 (một) quần Kaki màu đen là vật dụng cá nhân của bị cáo và tại phiên tòa bị cáo không có yêu cầu gì, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy.

Xét 01 (một) USB chứa dữ liệu camera ghi nhận sự việc trộm cắp tài sản, hiện đang là tài liệu, chứng cứ lưu theo hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị L đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm h, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 53; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trần Thanh H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2023.

Căn cứ điểm c Khoản 2, điểm a Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) balo; 01 (một) áo sơ mi ngắn tay; 01 (một) quần Kaki màu đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) USB chứa dữ liệu camera ghi nhận sự việc trộm cắp tài sản.

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật phí và lệ phí.

Bị cáo chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Phòng PV 06-Công an TpHCM;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án, VT;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thanh Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 68/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thanh H-Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger