Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

Bản án số: 68/2024/HS-ST

Ngày 18-5-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Thuận
  2. Ông Nguyễn Tý

Thư ký phiên toà: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường, Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. TÀO NGUYỄN THÀNH T, tên gọi khác: không; sinh ngày 26/3/1996; tại: thành phố Đà Nẵng; Nơi đăng ký HKTT: tổ G, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng; Nơi ở hiện nay: số I đường N, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 05/12; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Tào Quang C (sinh năm: 1965) và bà Nguyễn Thị G (sinh năm 1966); gia đình có 04 người con, bị cáo là con thứ ba; vợ là Võ Ngọc Tường V (sinh năm 2000), chưa có con; Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

  • + Năm 2019, bị Công an quận T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
  • + Năm 2021, bị Công an quận L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
  • + Ngày 10.4.2024, bị Công an quận T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 140 với số tiền 3.500.000 đ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý; số tiền 1.500.000 đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 15/01/2024, hiện nay đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ. Có mặt tại phiên tòa.

2. BÙI VĂN G, tên gọi khác: không; sinh ngày 10/01/2004; tại: tỉnh Quảng Nam; Nơi đăng ký HKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Nơi ở hiện nay: Nhà hàng D, đường T, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Bùi Văn T1 (sinh năm 1977 - đã chết) và con bà Lê Thị Kiều H (sinh năm 1977); gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ nhất; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 15/01/2024, hiện nay đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm 1982; địa chỉ: thôn P, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. (Vắng mặt)
  2. Ông Dương Văn T2, sinh năm 2005; địa chỉ: thôn P, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. (Vắng mặt)
  3. Ông Tào Quang C, sinh năm 1965; địa chỉ: tổ G, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 15/01/2024, Bùi Văn G1 điện thoại cho Tào Nguyễn Thành T3 hỏi mua 800.000 đồng ma tuý đá để sử dụng thì T3 đồng ý bán và hẹn giao ma tuý tại số I N, quận T, thành phố Đà Nẵng. Đến 16 giờ 50 phút cùng ngày, G1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 92D1-866.22 đến số nhà I N, phường A, quận T gặp và mua 800.000 đồng ma túy đá của T3 và nhận từ T3 01 gói ma túy đá. G1 cầm gói ma túy vào lòng bàn tay phải rồi đi về, khi G1 đi đến trước nhà số E Đ, tổ A, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng thì bị lực lượng Đ thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố Đ kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang G1 đang tàng trữ trái phép 01 (một) gói nilong có kích thước khoảng (04x04)cm bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong bì thư kí hiệu G1 nghi là ma túy, G1 khai nhận mua về để sử dụng cá nhân.

* Đến khoảng 19h00 cùng ngày, Đ tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Tào Nguyễn Thành T3 tại số nhà I N, phường A, quận T. Qua khám xét thu giữ tại hành lang trước cửa phòng ngủ của T3 01 (một) gói nilong có kích thước khoảng (6x9,5)cm bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong bì thư kí hiệu T1;

thu giữ trong phòng ngủ của T3 02 (hai) gói nilong có kích thước lần lượt khoảng (13,5x8,2)cm và (4x4)cm bên trong có bám dính chất tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong bì thư kí hiệu T2; 02 (hai) gói nilong có kích thước khoảng (4,2x4)cm bên trong có chứa và bám dính chất tinh thể rắn màu trắng được niêm phong trong bì thư kí hiệu T3 và T4; 01 (một) dĩa sứ màu trắng bên trên bề mặt có chứa chất bám dính màu trắng, 01 thẻ nhựa màu đen và ống hút được quấn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và 01 (một) gói nilong bên trong có chứa chất bột màu cam được niêm phong trong bì thư kí hiệu T5.

Qua điều tra, T3 khai nhận gói ma túy đá T3 cất giấu tại hành lang trước cửa phòng ngủ (T) để bán cho người khác kiếm tiền lời; các gói dính ma túy khay,đá, thuốc lắc khác (T2, T3, T4 và T5) T3 khai mua đã lâu và không nhớ thời gian mua, sử dụng dư còn lại, khi nào cần lấy ra sử dụng tiếp. Số ma túy trên T3 mua của một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) ở khu vực bến xe trung tâm Đ1 về để sử dụng và bán lại cho ai có nhu cầu;

* Kết quả xét nghiệm chất ma tuý ngày 16/01/2024 đối với Tào Nguyễn Thành T3 và Bùi Văn G1 dương tính với chất ma tuý.

* Tại Bản kết luận giám định số 97/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ kết luận:

  • + Tinh thể rắn màu trắng trong bì niêm phong kí hiệu G1, T1 gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng mẫu G1 :0,451 gam; mẫu T1: 1,581 gam;
  • + Tinh thể rắng màu trắng bám dính trong bì niêm phong ký hiệu T2 gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine; Không xác định được khối lượng mẫu T2;
  • + Tinh thể rắn màu trắng kí hiệu T3 gửi giám định là ma túy loại Ketamine khối lượng mẫu T3: 0,288 gam.
  • + Chất bột màu trắng bám dính trong bì niêm phong kí hiệu T4 là ma túy loại Methamphetamine, Ketamine. Không xác định được khối lượng mẫu T4.
  • + Chất bột bám dính trên dĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu đen, ống hút được cuốn từ tờ tiền mệnh giá 20.000 đ cố định bằng 02 mảnh giấy màu vàng kí hiệu T5 gửi giám định là ma túy loại Ketamine. Không xác định được khối lượng.
  • + Chất bột màu cam trong bì niêm phong ký hiệu T5 gửi giám định là ma túy loại MDMA, Ketamine; khối lượng mẫu chất bột màu cam: 0,044 gam.

* Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ vật chứng:

01 xe mô tô honda Wave RSX biển số 92D1822.66, số máy 52E0253960; số khung RLHJA3852MY114527 do chị Nguyễn Thị Thúy N đứng tên chủ sở hữu; hiện đã hoàn trả xe máy này cho chị Nguyễn Thị Thúy N.

01 (một) gói nilong có kích thước khoảng (6x9,5)cm bên trong có chứa chất tỉnh thể rắn màu trắng; 01 (một) gói nilong có kích thước khoảng (4,2x4)cm bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng; 02 (hai) gói nilong có kích thước lần lượt khoảng (13,5x8,2)cm và (4x4)cm bên trong có bám dính chất tinh thể rắn màu trắng; 01 (một) gói nilong có kích thước khoảng (4,2x4)cm bên trong có bám dính chất tinh thể rắn màu trắng;

01 (một) chai nhựa bên trên nắp có gắn 01 nỏ thủy tinh và 01 ống hút bằng nhựa;

01 (một) dĩa sứ màu trắng bên trên bề mặt có chứa chất bám dính màu trắng; 01 thẻ nhựa màu đen và ống hút được quấn bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và 01 (một) gói nilong bên trong có chứa chất bột màu cam;

01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số imei: 353904104483991, gắn sim số: 0789239437 của bị cáo Bùi Văn G1;

01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, số imei: 357268094942184, gắn sim số: 0905785339 của bị cáo Tào Nguyễn Thành T3;

01 (một) điện thoại di động hiệu F15S bàn phím, số imei: 350270158202049, gắn sim số: 0763599990 của bị cáo Tào Nguyễn Thành T3.

(Vật chứng hiện đang được Chi cục Thi hành dân sự quận T, thành phố Đà Nẵng tạm thời quản lý).

* Tại bản Cáo trạng số: 48/CT-VKS-TK ngày 24 tháng 04 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê đã truy tố bị cáo Tào Nguyễn Thành T3 về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự và Bùi Văn G1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố thay đổi quan điểm truy tố đối với bị cáo Tào Nguyễn Thành T3 và giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Bùi Văn G1 theo như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ áp dụng đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Tào Nguyễn Thành T3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Bùi Văn G1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tào Nguyễn Thành T3 từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn G1 từ 24 (hai mươi bốn) tháng đến 30 (ba mươi) tháng tù.
  • - Về xử lý vật chứng: đại diện Viện kiểm sát căn cứ các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên:

Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) chai nhựa bên trên nắp có gắn 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút bằng nhựa và toàn bộ số mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 06 (sáu) bì thư ký hiệu G1, T1, T2, T3, T4, T5 kèm theo kết luận giám định số 97/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ; riêng đối với 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được niêm phong trong bì thư ký hiệu T5 thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số imei: 353904104483991, gắn sim số: 0789239437 của bị cáo Bùi Văn G1 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, số imei: 357268094942184, gắn sim số: 0905785339 của bị cáo Tào Nguyễn Thành T3.

Trả lại 01 (một) điện thoại di động hiệu F15S bàn phím, số imei: 350270158202049, gắn sim số: 0763599990 cho bị cáo Tào Nguyễn Thành T3

- Các vấn đề khác:

Đối với hành vi cất giấu trái phép 0,288 gam ma tuý loại Ketamine và 0,044 gam ma tuý loại MDMA và Ketamine của T3 nhằm mục đích để sử dụng nhưng trọng lượng không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Công an quận T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 3.500.000 đồng.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Tào Nguyễn Thành T3 và Bùi Văn G1, Công an quận T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 140 và 141 cùng ngày 10.4.2024 với số tiền 1.500.000 đồng.

Đối với người bán ma tuý cho T3 do chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục điều tra xử lý sau.

Phần tranh tụng tại phiên tòa, các bị cáo thống nhất với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, tội danh và mức hình phạt cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Các bị cáo T3 và G1 rất ân hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Đồn Biên phòng Đ thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố Đ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Tào Nguyễn Thành T3 và Bùi Văn G1 đã thống nhất khai nhận:

Vào khoảng 16 giờ 50 phút, ngày 15/01/2024, Đồn Biên phòng Đ thuộc Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng thành phố Đ kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Bùi Văn G1 đang tàng trữ trái phép 0,451 gam ma túy, loại Methamphetamine. Bùi Văn G1 khai nhận số ma túy này G1 mua lại từ Tào Nguyễn Thành Trung nhằm mục đích để sử dụng. Đến 19 giờ cùng ngày, Đ tiến hành khám xét nơi cư trú và bắt quả tang Tào Nguyễn Thành T3 đang cất giấu 1,581 gam ma tuý loại Methamphetamine nhằm mục đích để bán cho người khác; cất giấu 0,044 gam ma túy loại MDMA, Ketamine và 0,288 gam ma tuý loại Ketamine để sử dụng. Bị cáo T3 khai nhận bán ma túy cho bị cáo G1 là lần đầu tiên thì bị phát hiện và bắt giữ.

Lời khai của các bị cáo Tào Nguyễn Thành T3 và Bùi Văn G1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, truy tố, phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản hỏi cung bị can; vật chứng thu giữ; kết luận giám định...Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Tào Nguyễn Thành T3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Bùi Văn G1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê truy tố các bị cáo với tội danh như trên là có căn cứ, đúng pháp luật, cần được chấp nhận.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm từ hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy: Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, ma túy là một trong những vấn nạn của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Do tác hại quá lớn của ma túy nên Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống ma túy cũng như quyết tâm loại trừ các tệ nạn về ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Trong vụ án này, các bị cáo Tào Nguyễn Thành T3 và Bùi Văn G1 là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân, muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ sức lao động và muốn có ma túy để sử dụng nên vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về các chất ma túy của nhà nước ta, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính tại địa phương, gây nguy hại đến sức khỏe con người, là nguồn gốc lây lan tệ nạn nghiện ma túy và các căn bệnh xã hội khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thì thấy:

Trong vụ án này, các bị cáo Tào Nguyễn Thành T3 và Bùi Văn G1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra cũng như tranh tụng tại phiên tòa, các bị cáo T3 và G1 đều đã thực sự thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là tình tiết được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần mức hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo T3 và G1 là người có nhân thân xấu, bản thân các bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo T3 từng bị Công an quận T và quận L xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma túy vào các năm 2019, năm 2021 và năm 2024; bị cáo G1 bị Công an quận T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý năm 2024, các bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm, rèn luyện bản thân, chăm chỉ lao động, làm ăn lương thiện để đóng góp phát triển xã hội mà chọn con đường nghiện, hút ma túy dẫn đến có hành vi phạm tội; điều đó thể hiện ý thức xem thường pháp luật của các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng hiện nay, tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy tiếp tục diễn biến phức tạp, gây tác động rất xấu đến đời sống xã hội.

Do đó, cần phải xét xử nghiêm, áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo có cơ hội cai nghiện, cải tạo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Tào Nguyễn Thành T3 về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét thấy:

  • + Đối với toàn bộ số mẫu vật hoàn lại sau giám định niêm phong trong 06 (sáu) bì thư ký hiệu G1, T1, T2, T3, T4, T5 kèm theo kết luận giám định số 97/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ. Đây đều là vật nhà nước cấm lưu hành và có liên quan đến vụ án đều không còn giá trị sử dụng nên cần được tịch thu và tiêu hủy; riêng đối với 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 VND dùng làm ống hút được niêm phong trong bì thư ký hiệu T5 thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước;
  • + Đối với 01 (một) chai nhựa bên trên nắp có gắn 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút bằng nhựa là dụng cụ bị cáo T3 dùng cho việc sử dụng ma tuý. Xét thấy các vật chứng đều không còn giá trị sử dụng nên cần tiến hành tịch thu và tiêu hủy;
  • + Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số imei: 353904104483991, gắn sim số: 0789239437 của bị cáo Bùi Văn G1 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, số imei: 357268094942184, gắn sim số: 0905785339 của bị cáo Tào Nguyễn Thành T3. Xét thấy đây là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng để liên lạc mua, bán ma túy và còn giá trị sử dụng nên tiến hành tịch thu, nộp ngân sách nhà nước khi án có hiệu lực pháp luật. Riêng các thẻ sim số thuê bao 0789239437 và số thuê bao 0905785339 đã hết giá trị sử dụng nên tiến hành tịch thu, tiêu hủy;
  • + Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu F15S bàn phím, số imei: 350270158202049, gắn sim số: 0763599990 của bị cáo Tào Nguyễn Thành T3. Xét thấy đây là tài sản cá nhân và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiến hành trả lại cho bị cáo T3 khi án có hiệu lực pháp luật nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
  • + Đối với 01 (một) xe mô tô honda Wave RSX, biển số 92D1822.66, số máy 52E0253960; số khung RLHJA3852MY114527. Trong quá trình điều tra đã xác định được xe này do bà Nguyễn Thị Thúy N đứng tên chủ sở hữu. Bà N cho con trai là Dương Văn T2 mượn đi lại. Ngày 15/01/2024, T2 cho bị cáo G1 mượn xe đi có việc; cả bà N và anh T2 đều không biết bị cáo G1 dùng xe này đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 512/QĐ-ĐCSMT ngày 10/4/2024 tiến hành trả lại chiếc xe này cho chủ sở hữu hợp pháp bà Nguyễn Thị Thúy N là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập, giải quyết.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Vấn đề khác:

Đối với hành vi cất giấu trái phép 0,288 gam ma tuý loại Ketamine và 0,044 gam ma tuý loại MDMA và Ketamine của T3 nhằm mục đích để sử dụng nhưng trọng lượng không đủ cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Công an quận T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 3.500.000 đồng là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Qua thử test nước tiểu đối với Tào Nguyễn Thành T3 và Bùi Văn G1 xác định các bị cáo dương tính với chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T ban hành các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 140 và 141 cùng ngày 10.4.2024, xử phạt mỗi bị cáo số tiền 1.500.000 đồng về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

Đối với hành vi Dương Văn T2 giao xe cho bị cáo Bùi Văn G1 mượn sử dụng. Bị cáo G1 khai nhận thời điểm mượn xe không nói với anh T2 việc mình dùng xe này để đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không truy cứu trách nhiệm đối với T2 là có căn cứ, Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét, giải quyết.

Đối với người bán ma tuý cho T3 nhưng chưa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục điều tra, xác minh nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Tào Nguyễn Thành T3 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Bùi Văn G1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
    1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Tào Nguyễn Thành T3 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 15/01/2024).
    2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Bùi Văn G1 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 15/01/2024).
  2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 251 và Điều 35 Bộ luật Hình sự. Phạt tiền: Bị cáo Tào Nguyễn Thành T3 5.000.000₫ (năm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) chai nhựa bên trên nắp có gắn 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút bằng nhựa và toàn bộ số mẫu vật hoàn lại sau giám định niêm phong trong 06 (sáu) bì thư ký hiệu G1, T1, T2, T3, T4, T5 kèm theo kết luận giám định số 97/KL-KTHS ngày 22/01/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ; riêng đối với 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 VND dùng làm ống hút được niêm phong trong bì thư ký hiệu T5 thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

    Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone, số imei: 353904104483991 của bị cáo Bùi Văn G1 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen, số imei: 357268094942184 của bị cáo Tào Nguyễn Thành T3. Tịch thu, tiêu hủy thẻ sim số thuê bao 0789239437 của bị cáo Bùi Văn G1 và thẻ sim số thuê bao 0905785339 của bị cáo Tào Nguyễn Thành T3.

    Trả lại 01 (một) điện thoại di động hiệu F15S bàn phím, số imei: 350270158202049, gắn sim số: 0763599990 cho bị cáo Tào Nguyễn Thành T3 nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

    (Vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Thanh Khê theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T và Chi cục Thi hành án Dân sự quận Thanh Khê).

  4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Bị cáo Tào Nguyễn Thành T3 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo Bùi Văn G1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: Các bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (18/5/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Đà Nẵng;
  • - VKSND thành phố Đà Nẵng;
  • - Sở tư pháp thành phố Đà Nẵng;
  • - VKSND quận Thanh Khê;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự CA tp. Đà Nẵng;
  • - Trại Tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Khê;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hoàng Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 18/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về vụ án hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 68/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Tào Nguyễn Thành Trung phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Bùi Văn Giang phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger