Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HS-ST

Ngày 17 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • + Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Tuấn
  • + Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Minh và ông Trần Đình Đậu.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thế Vinh, Thư ký, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thu Hà, Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 24/5/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 78/2024/QĐXX-HS ngày 05/6/2024; đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Cao Văn B; sinh ngày 18/02/1985; Nơi ĐKHKTT: Khu D, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cao Văn H, đã chết và bà Lã Thị H1, sinh năm 1960; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Nguyễn Thị Bích T, sinh năm: 1988 và có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án HSST số 26 ngày 07/02/2018 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì xử phạt Cao Văn B 12 triệu đồng về tội đánh bạc (số tiền đánh bạc 6.750.000 đồng và buộc nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng). B đã nộp xong khoản tiền phạt và án phí ngày 21/3/2018. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/02/2024 đến ngày 01/3/2024 bị khởi tố bị can, được huỷ bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, (Có mặt).

2. Họ và tên: Phạm Thị Kim D; sinh ngày 13/7/1981; Nơi ĐKHKTT: Khu A, xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn T1, đã chết và bà: Trần Thị H2, sinh năm 1961; Gia đình có 02 chị em bị cáo là con cả; Chồng: Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1973 và có 03 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/02/2024 đến ngày 01/3/2024 bị khởi tố bị can, được huỷ bỏ biện pháp tạm giữ và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; Hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ, (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 10 phút ngày 27/02/2024, tại đường dân sinh khu D, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác đội Điều tra hình sự Công an thành phố V phát hiện, lập biên bản kiểm tra hành chính đối với Cao Văn B, sinh năm 1985, trú tại: khu D, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ có hành vi sử dụng điện thoại di động Samsung Galaxy A14, màu đen lắp sim số 0325886263, đăng ký tài khoản Zalo tên “My life” nhận tin nhắn có nội dung bán các số lô, số đề với tài khoản Zalo "Com Xanh” của chị Phạm Thị Kim D, sinh năm 1981, trú tại: xã V, huyện L, tỉnh Phú Thọ, với tổng số tiền là 6.110.000 đồng.

Quá trình xác minh, Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập Phạm Thị Kim D, tại cơ quan điều tra Cao Văn BPhạm Thị Kim D khai nhận: Do không có việc làm ổn định, muốn nhanh chóng có tiền để chi tiêu cá nhân nên B bảo với D khi nào D có nhu cầu mua số lô, số đề thì nhắn tin cho B qua tài khoản Z có tên “My life” đăng ký bằng số điện thoại 0325.886.xxx. B và D thoả thuận hình thức đánh số lô, số đề và tỷ lệ thắng thua như sau: Số lô, số đề là các số tự nhiên có hai chữ số từ 00 đến 99. Số lô, lô xiên được so sánh với hai số cuối của tất cả các giải thưởng, số đề so sánh với 02 số cuối giải đặc biệt, ba càng so sánh với 03 số cuối giải đặc biệt của kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày. Bình bán cho D 20.000 đồng/01 điểm lô, nếu trúng thì sẽ được số tiền tương ứng là 70.000 đồng/01 điểm lô; đối với lô xiên 3 nếu cả 03 số lô xiên trùng với 02 số cuối của các giải thì là trúng và được B trả số tiền gấp 40 lần số tiền đã mua; đối với lô xiên 2 nếu trúng thì được B trả số tiền gấp 10 lần số tiền đã mua; đối với số đề nếu trúng thì được trả số tiền gấp 70 lần số tiền đã mua; đối với số ba càng nếu trúng thì được trả số tiền gấp 400 lần số tiền đã mua. Nếu người mua không trúng thì B sẽ thắng cược và được số tiền mà người mua đã mua và không phải thanh toán gì cả. BD sẽ thanh toán thắng thua vào ngày hôm sau, khi đã so sánh kết quả và tính được số tiền thắng thua. Quy ước “lô” là số lô, “đ” là điểm, “lx” được hiểu là lô xiên, “dây” được hiểu là một bộ các số đề, “1” là đồng ý, xác nhận bán các số lô, số đề. Chiều ngày 27/02/2024, D nảy sinh ý định mua các số lô, số đề, sau khi D viết các số lô, số đề và số tiền mua vào một tờ giấy A4 màu trắng, D dùng điện thoại Iphone 8, màu trắng lắp sim số 0342612233 chụp lại tờ A4 này và gửi ảnh vào zalo “My life” của B (D lưu số điện thoại 0325.886.xxx của B trong điện thoại là “Dau De 2” nên tài khoản zalo của B hiển thị trong điện thoại của D là “Dau De 2”) để mua các số lô, số đề, sau đó B nhắn lại “1” xác nhận đồng ý bán cho D, cụ thể các số lô, đề D đã mua: “00-270; 27-400; 23-450; 24-100; 22-320; 11-230; 50-100; 32-100(30); 77-150; 76-120; 99-100; 72-80; 05-50; 25-20; 55-110; 66-30; 69-40; 80-30; 83-30; 96-50; 3 số 099-140; dây 24-720; dây 23-240; 1x83.43>5, 91.94.77>5; 91.74>10; lô 22, 00, 41, 55, 76-20đ” nghĩa là D mua của B: các số đề 00 là 270.000 đồng, 27 là 400.000 đồng, 23 là 450.000 đồng, 24 là 100.000 đồng, 22 là 320.000 đồng, 11 là 230.000 đồng, 50 là 100.000 đồng, 32 là 130.000 đồng, 77 là 150.000 đồng, 76 là 120.000 đồng, 99 là 100.000 đồng, 72 là 80.000 đồng, 05 là 50.000 đồng, 25 là 20.000 đồng, 55 là 110.000 đồng, 66 là 30.000 đồng, 69 là 40.000 đồng, 80 là 30.000 đồng, 83 là 30.000 đồng, 96 là 50.000 đồng; ba càng 099 là 140.000

đồng; dây 24 (gồm các số đề 24, 42, 97, 79, 47, 74, 92, 29) là 720.000 đồng; dây 23 (gồm các số đề 23, 32, 82, 28, 78, 87, 37, 73) là 240.000 đồng; lô xiên 2 83.43 là 50.000 đồng; lô xiên 3 91.94.77 là 50.000 đồng; lô xiên 2 91.74 là 100.000 đồng; các số lô 22, 00, 41, 55, 76 mỗi số 20 điểm, tổng điểm là 100 điểm = 2.000.000 đồng. Tổng số tiền mà D đã mua các số lô, số đề của B là 6.110.000 đồng. Sau khi gửi ảnh xong cho B, D đã xoá ảnh, tin nhắn trong điện thoại và đốt tờ giấy A4 có ghi các số lô, số đề nói trên. Đến 18 giờ 10 phút, B bị Tổ công tác kiểm tra hành chính như đã nêu trên. Hành vi đánh bạc giữa BD bị phát hiện trước khi có kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày nên BD chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền đã sử dụng để đánh bạc là 6.110.000 đồng. Số tiền đánh bạc DB chưa thanh toán cho nhau.

Tại Cáo trạng số: 64/CT-VKSVT ngày 20/5/2024,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, truy tố: Bị cáo Cao Văn BPhạm Thị Kim D về tội: "Đánh bạc", theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố; Sau khi luận tội đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

- Tuyên bố bị cáo Cao Văn B và bị cáo Phạm Thị Kim D phạm tội “Đánh bạc".

* Về hình phạt chính:

- Đối với bị cáo B: Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 58 Bộ luật hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Cao Văn B từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ 03 ngày tạm giữ từ ngày 27/02/2024 đến ngày 01/3/2024 quy đổi thành 09 ngày cải tạo không giam giữ vào thời gian chấp hành, bị cáo còn phải chấp hành từ 11 tháng 21 ngày đến 14 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ khi Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo B cho UBND xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo B hiện đang sống cùng gia đình, thu nhập hàng tháng không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng nhưng cần buộc bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo yêu cầu của Chính quyền địa phương và thực hiện nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

- Đối với bị cáo D: Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo D từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, Bộ luật Tố tụng hình sự; để xử lý vật chứng theo hướng: Vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội thì tịch thu nộp ngân sách nhà nước, vật chứng không còn giá trị sử dụng hoặc không sử dụng được thì tịch thu và tiêu hủy. Tịch thu vào ngân sách nhà nước các điện thoại di động mà các bị cáo dùng để đánh bạc gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung

Galaxy A14, màu đen, số IMEI 1 357865262200699, IMEI 2 358164362200695 thu giữ của bị cáo B. 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu trắng, số IMEI 356762082629218 thu giữ của bị cáo D. Tịch thu tiêu hủy các Sim gắn trong các điện thoại của các bị cáo gồm: Sim số: 0325886263 của bị cáo B; Sim số: 0342612233 của bị cáo D. Truy thu số tiền đánh bạc của các bị cáo: Bị cáo D đánh bạc dưới hình thức gửi tin nhắn để mua số lô, số đề của bị cáo B, hành vi phạm tội của bị cáo bị phát hiện trước khi có kết quả xổ số nên không bị truy thu tiền thu lời bất chính. Đối với số tiền các bị cáo đánh bạc với nhau do bị cáo D chưa thanh toán tiền đánh bạc cho bị cáo B nên cần buộc bị cáo D phải nộp lại số tiền đánh bạc để nộp ngân sách nhà nước là: 6.110.000 đồng. Quá trình điều tra, ngày 22/4/2024 bị cáo D đã tự nguyện đã nộp lại số tiền đánh bạc này cho Cơ quan điều tra nên cần được xác nhận.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng, án phí hình sự sơ thẩm.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt, được cải tạo ngoài xã hội để có cơ hội sửa chữa sai lầm, khuyết điểm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau: Hồi 18 giờ 10 phút ngày 27/02/2024, tại đường dân sinh khu D, xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Cao Văn B đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề cho Phạm Thị Kim D với số tiền 6.110.000 đồng, thì bị Tổ công tác Đội điều tra hình sự, Công an thành phố V phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính.

Hành vi đánh bạc giữa BD bị phát hiện trước khi có kết quả xổ số miền B mở thưởng cùng ngày nên BD phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền đã sử dụng để đánh bạc là 6.110.000 đồng.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với thời gian, địa điểm nơi xảy ra tội phạm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở và căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Cao Văn B và bị cáo Phạm Thị Kim D phạm tội: "Đánh bạc", tội phạm và hình phạt mà các bị

cáo phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, như nội dung cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Nội dung khoản 1 Điều 321. Tội Đánh bạc Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...".

Về động cơ, mục đích, nguyên nhân phạm tội: Xuất phát từ việc bản thân các bị cáo không có công ăn việc làm, thu nhập không ổn định nên đã thực hiện hành vi đánh bạc với hình thức mua bán số lô, số đề với mục đích để có tiền tiêu sài cho bản thân.

Các bị cáo đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên phải chịu trách nhiệm hình sự với lỗi cố ý trực tiếp.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành. Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng; Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng và gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt thật nghiêm mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung về tội phạm cho xã hội.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo, thấy rằng:

Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo D còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là: “Lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo là phù hợp.

Xét thấy, bị cáo B có nơi cư trú rõ ràng và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt sau này. Đồng thời, cần miễn việc khấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ đối với bị cáo B, vì bị cáo không có thu nhập ổn định là phù hợp.

Đối với bị cáo Phạm Thị Kim D xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng và phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên chỉ cần xử phạt bị cáo D hình phạt chính là hình phạt tiền

cũng đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người tốt sau này và thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước ta đối với người phạm tội thật sự biết ăn năn, hối cải, là phù hợp.

[3]. Về hình phạt bổ sung: Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định: Các bị cáo đều là lao động tự do, sống cùng gia đình, ngoài những vật dụng, tài sản sinh hoạt hàng ngày và tài sản là chiếc điện thoại di động bị cơ quan công an thu giữ thì không có tài sản gì riêng có giá trị. Mặt khác, bị cáo D bị xử phạt hình chính là phạt tiền. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.

[4]. Về xử lý vật chứng: Các tài sản mà cơ quan CSĐT đã thu giữ, cơ quan điều tra đã xác định: 01 điện thoại di động S A14, màu đen, số IMEI 1 357865262200699, IMEI 2 358164362200695 lắp sim số 0325886263, thu giữ của Cao Văn B và 01 điện thoại di động Iphone 8, màu trắng, số IMEI 356762082629218 lắp sim số 0342612233, thu giữ của Phạm Thị Kim D đây đều là điện thoại mà các bị cáo dùng để liên lạc trao đổi mua bán số lô, đề với nhau; do vậy, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 02 chiếc điện thoại, còn 02 sim gắn trong điện thoại cần tịch thu tiêu hủy vì không còn giá trị sử dụng. Còn đối với số tiền 6.110.000 đồng, là tiền mà bị cáo D mua số lô, số đề của B, bị cáo D đã tự nguyện giao nộp lại cho cơ quan CSĐT, hiện số tiền này đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là phù hợp.

[5]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật, là phù hợp.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 58 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Cao Văn B.
  • - Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Phạm Thị Kim D.
  • - Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Q;

* Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn B và bị cáo Phạm Thị Kim D phạm tội: “Đánh bạc".

* Về hình phạt chính:

- Xử phạt bị cáo Cao Văn B 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ 03 (Ba) ngày tạm giữ từ ngày 27/02/2024 đến ngày 01/3/2024 bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo còn phải chấp hành hình phạt 14 (Mười bốn) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành

án hình sự Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án. Giao cho UBND xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục bị cáo B trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Miễn việc khấu trừ thu nhập trong thời gian cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Cao Văn B.

Bị cáo Cao Văn B phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. UBND xã H, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thực hiện buộc bị cáo B lao động phục vụ cộng đồng. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 (Bốn) giờ trong một ngày và không quá 05 (Năm) ngày trong 01 (Một) tuần.

- Xử phạt bị cáo Phạm Thị Kim D 30.000.000 đồng, (Ba mươi triệu đồng).

* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Cao Văn B và bị cáo Phạm Thị Kim D.

* Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

  • + Số tiền 6.110.000 đồng (Sáu triệu một trăm mười nghìn đồng), (Theo Biên lai thu tiền số: 0004649 ngày 23/5/2024, của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ).
  • + 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14, màu đen, số IMEI 1 357865262200699, IMEI 2 358164362200695 thu giữ của bị cáo Cao Văn B;
  • + 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu trắng, số IMEI 356762082629218 thu giữ của bị cáo Phạm Thị Kim D.

- Tịch thu tiêu hủy:

  • + 01 (Một) Sim số: 0325886263 gắn trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14, màu đen thu giữ của bị cáo Cao Văn B;
  • + 01 (Một) Sim số: 0342612233 gắn trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, màu trắng thu giữ của bị cáo Phạm Thị Kim D.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/5/2024, giữa Công an tỉnh P và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ).

* Về án phí: Buộc bị cáo Cao Văn B và bị cáo Phạm Thị Kim D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND TP. Việt Trì;
  • - Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an TP. Việt Trì;

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ về đánh bạc (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 68/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ - TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: B tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger