Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH BẢO

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST

Ngày 16-8-2024

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quyết

Bà Nguyễn Thị Tâm

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện VB tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 71/2024/TLST HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Thanh M; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn TH, xã TL, huyện VB, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Thôn CĐ, xã NH, huyện VB, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thế L; đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu dân cư TH, thị trấn VB, huyện VB, thành phố Hải Phòng, hiện đang chấp hành án tại Đội 22, phân trại 2, Trại giam XN, Hải Phòng; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đỗ Thị Thanh M trình bày: Chị và anh Nguyễn Thế L kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 25-5-2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn VB, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, anh chị hòa thuận hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm tính cách không hòa hợp nên đã xảy ra bất hòa. Do vi phạm pháp luật nên anh Nguyễn Thế L bị Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Hiện nay anh L đang chấp hành án tại Trại giam XN, Hải Phòng. Từ cuối năm 2018 đến nay, vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau, đối xử với nhau lạnh nhạt. Nay nhận thấy tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thế L.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Thế L có 03 con chung là Nguyễn CB, sinh ngày 28-12-2012, Nguyễn Đỗ MK, sinh ngày 13-8-2014 và Nguyễn Đỗ NK, sinh ngày 31-01-2017. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao cả ba con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chị xin tự giải quyết với anh L.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Thế L xác nhận về điều kiện hoàn cảnh kết hôn như chị Đỗ Thị Thanh M trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận hạnh phúc thời gian đầu và có ba con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2022 do anh vi phạm pháp luật bị Tòa án nhân dân huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, hiện anh đang chấp hành án tại Trại giam XN, Hải Phòng. Nay chị M xin ly hôn anh không đồng ý.

Về con chung: Anh và chị Đỗ Thị Thanh M có 03 con chung là Nguyễn CB, sinh ngày 28-12-2012, Nguyễn Đỗ MK, sinh ngày 13-8-2014 và Nguyễn Đỗ NK, sinh ngày 31-01-2017, hiện đang ở với chị M. Do không đồng ý ly hôn nên anh không có ý kiến về việc nuôi con chung, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đồng thời phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ, việc xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ, tại phiên tòa bị đơn vắng mặt không có lý do, tuy nhiên vi phạm của bị đơn không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị Thanh M được ly hôn anh Nguyễn Thế L. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn CB, sinh ngày 28-12-2012, Nguyễn Đỗ MK, sinh ngày 13-8-2014 và Nguyễn Đỗ NK, sinh ngày 31-01-2017 cho chị Đỗ Thị Thanh M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị M xin tự giải quyết với anh L nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị M và anh L không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Đỗ Thị Thanh M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài L có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Anh Nguyễn Thế L có hộ khẩu thường trú tại Khu dân cư TH, thị trấn VB, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn giữa chị Đỗ Thị Thanh M và anh Nguyễn Thế L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng.

[2] Tại phiên tòa chị Đỗ Thị Thanh M vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Thế L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa, tuy nhiên anh L vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Đỗ Thị Thanh M và anh Nguyễn Thế L.

- Về nội dung vụ án:

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Thanh M và anh Nguyễn Thế L kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn VB, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày 25-5-2012, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị hoà thuận thời gian đầu và có 03 con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp nên đã xảy ra bất hòa. Nay chị M xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị được ly hôn với anh L. Quá trình giải quyết vụ án, anh L không đồng ý ly hôn với chị M. Qua xác minh thì thấy, vợ chồng chị Đỗ Thị Thanh M và anh Nguyễn Thế L có mâu thuẫn, hiện anh L đang chấp hành án tại Trại giam XN, Hải Phòng. Vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau, đối xử với nhau lạnh nhạt. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Yêu cầu của chị Đỗ Thị Thanh M xin ly hôn với anh Nguyễn Thế L phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình được chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị Đỗ Thị Thanh M và anh Nguyễn Thế L có 03 con chung là Nguyễn CB, sinh ngày 28-12-2012, Nguyễn Đỗ MK, sinh ngày 13-8-2014 và Nguyễn Đỗ NK, sinh ngày 31-01-2017. Khi ly hôn, chị M đề nghị Tòa án giao cả ba con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, anh L không có ý kiến gì về việc nuôi con chung, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Xét yêu cầu đề nghị nuôi con chung của anh chị, Hội đồng xét xử nhận định: Chị M có nơi ở và thu nhập ổn định, cả ba con chung hiện đang ở với chị M và đều có nguyện vọng xin ở mẹ, mặt khác anh Nguyễn Thế L hiện đang chấp hành án tại Trại giam XN, Hải Phòng. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của chị M, giao cả ba con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chị M xin tự giải quyết với anh L nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Chị Đỗ Thị Thanh M và anh Nguyễn Thế L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Đỗ Thị Thanh M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị Thanh M được ly hôn anh Nguyễn Thế L.

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn CB, sinh ngày 28-12-2012, Nguyễn Đỗ MK, sinh ngày 13-8-2014 và Nguyễn Đỗ NK, sinh ngày 31-01-2017 cho chị Đỗ Thị Thanh M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Đỗ Thị Thanh M xin tự giải quyết với anh Nguyễn Thế L nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị Đỗ Thị Thanh M và anh Nguyễn Thế L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đỗ Thị Thanh M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị M đã nộp tạm ứng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện VB theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009343 ngày 31 tháng 5 năm 2024. Chị Đỗ Thị Thanh M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện VB;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - TAND Thành phố Hải Phòng;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự
  • huyện VB;
  • - Ủy ban nhân dân thị trấn VB
  • huyện VB, thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn tranh chấp nuôi con giữa chị Đỗ Thị Thanh M và anh Nguyễn Thị L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger