TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 68/2024/HS-ST Ngày 16/7/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Kiên Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hiển.
- Bà Nguyễn Thị Là .
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hoàn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Quốc H, sinh năm 1984 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Quốc M, sinh năm 1952 và bà Đặng Thị Q, sinh năm 1952; có vợ là Phạm Thị H1, sinh năm 1983 và có 02 con, con lớn sinh năm 2006 con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại: Ông Phạm Văn L, sinh năm 1939; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (đã chết).
* Đại diện hợp pháp cho bị hại:
- Chị Phạm Thị H2, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
- Chị Phạm Thị Thu H3, sinh năm 1970; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
- Anh Phạm Văn Q1, sinh năm 1972; nơi cư trú: F, đường C, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (vắng mặt).
- Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền của chị Phạm Thị H2, chị Phạm Thị Thu H3, anh Phạm Văn Q1 và chị Phạm Thị H1: Anh Phạm Quang T, sinh năm 1972 (là con rể của ông Phạm Văn L); nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình (có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH L2; trụ sở tại: Số B, đường T, phường B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Văn L1- Giám đốc (vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Văn T1, sinh năm 1975 (nhân viên Công ty TNHH L2); nơi cư trú: Tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Quốc H có giấy phép lái xe Hạng C do Sở G cấp ngày 22/11/2021. H hiện là lái xe của Công ty TNHH L2. Chiều ngày 22/02/2024, H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 17C-080.49, loại xe tải có mui, nhãn hiệu HUYNDAI, màu sơn xanh của công ty TNHH L2 chở hàng từ thành phố T đi giao cho khách tại thị trấn D, huyện T. Khoảng 14 giờ cùng ngày, H điều khiển xe đến Km83+800 Quốc lộ C thuộc địa phận thôn T, xã Đ, huyện Đ. Đoạn đường này cong nhẹ sang bên trái theo chiều Đông H4 đi T, mặt đường rải đá nhựa áp phan bằng phẳng, đường được chia làm 02 phần đường ngược chiều nhau được phân cách bởi vạch sơn đứt nét màu vàng rộng 0m15. Phần đường bên phải theo chiều Đ đi T rộng 3m50, tiếp giáp là lề đường rộng 1m50; Phần đường bên trái rộng 3m50, tiếp giáp là lề đường và mặt cống rộng 1m50. Lúc này, trời sáng, có mưa, mật độ phương tiện tham gia giao thông bình thường. H điều khiển xe ô tô đi ở phần đường bên phải theo chiều đi với tốc độ khoảng 50km/h. H quan sát phía trước thấy có khoảng 02 đến 03 xe mô tô di chuyển phía trước cùng chiều và cách xe ô tô của H tương đối xa nên vẫn điều khiển xe di chuyển bình thường không giảm tốc độ. Ngay sau đó, H quay sang quan sát gương chiếu hậu bên phải xe thấy có một xe mô tô đang đi song song cùng chiều với xe của H và cách xe của H khoảng 50 đến 60 cm. Lúc này, phía trước xe ô tô của H, ông Phạm Văn L đang đi bộ từ bên phải sang bên trái đường theo chiều đi của H. Vì H không chú ý quan sát phía trước nên khi phát hiện thì ông L đang đi bộ sang đường ở khu vực giữa đường và khoảng cách giữa đầu xe ô tô của H và ông L quá gần. H liền phanh và đánh lái sang phải để tránh nhưng không kịp, phần đầu bên trái xe ô tô đã va chạm với phần đầu và thân bên trái của ông L làm ông L ngã ra đường, xe ô tô dừng tại phần đường bên phải theo chiều đi, sát với vạch sơn đứt nét màu vàng. H xuống xe cùng mọi người đưa ông L đi cấp cứu, đến 15 giờ 50 phút cùng ngày, ông L chết tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T.
- Tại biên bản Khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường và Bản ảnh hiện trường thể hiện: Hiện trường không còn nguyên vẹn do cấp cứu người bị nạn, người và phương tiện khác qua lại. Xe ô tô biển kiểm soát 17C-080.49 sau tai nạn dừng tại hiện trường, đầu xe hướng đi T, trục bánh trước bên phải cách mép đường bên phải 1m10, trục bánh sau bên phải cách mép đường bên phải 1m10.
- Tại biên bản khám nghiệm phương tiện và Bản ảnh phương tiện gây tai nạn thể hiện: Xe ô tô biển kiểm soát 17C-080.49: mặt trước ngoài ốp kim loại đầu xe bên trái tương ứng vị trí phía dưới chân cần gạt nước, cách thành xe bên trái 14cm có dấu vết trượt mất bụi, miết bề mặt, nứt vỡ ma tít, bong tróc sơn, cong lõm kim loại hướng từ trước về sau, từ phải sang trái, bề mặt bám dính một số xơ sợi vải màu trắng, vết đo (39x30) cm, vị trí cao nhất và thấp nhất của vết đo cách đất 137cm và 111cm; Kính đèn pha bên trái bị đẩy từ trước về sau làm nứt vỡ kính đèn.
- Bản Kết luận giám định tử thi số 262/KLGĐTT-KTHS ngày 29/02/2024 của phòng K Công an tỉnh T đối với ông Phạm Văn L, kết luận: Khám ngoài, trên tử thi có các vết sây sát da, rách da, trợt da, tụ máu tại vùng đầu, mặt và toàn thân; gãy xương đòn trái; gãy toàn bộ xương sườn cung trước và cung bên bên trái. Khám trong: Vỡ xương sọ vùng trán bên trái, chảy máu não. Kết luận: Nạn nhân Phạm Văn L chết do chấn thương sọ não và đa chấn thương.
- Hình ảnh video trích xuất từ camera lắp đặt gần hiện trường; Kết luận giám định số 686/KL-KTHS ngày 28/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh của 01 tập tin (file) video gửi giám định.
Tại phiên tòa:
+ Bị cáo Trần Quốc H thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của bản thân làm ông Phạm Văn L bị chết như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại về tính mạng của ông L cho gia đình ông L số tiền 115.000.000 đồng. Bị cáo xin lỗi gia đình bị hại. Bị cáo đề nghị được nhận lại giấy phép lái xe ô tô để tiếp tục hành nghề lái xe.
+ Anh Phạm Quang T đại diện theo ủy quyền của đại diện hợp hợp pháp cho bị hại trình bày: Sau khi tai nạn xẩy ra, bị cáo H đã tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại về tính mạng của ông L số tiền 115.000.000 đồng; gia đình ông L đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Gia đình có thiếu sót là để người già đi bộ sang đường Quốc lộ mà không có người trông nom, dẫn dắt. Gia đình vẫn giữ nguyên quan điểm xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
+ Đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH L2, ông Phan Văn T1 trình bày: Công ty TNHH L2 đã được nhận lại chiếc xe ô tô biển kiểm soát 17C - 080.49 và 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 Giấy chứng nhận kiểm định, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe ô tô. Xe ô tô bị thiệt hại không lớn, Công ty TNHH L2 đã tự sửa chữa, khắc phục và không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 65/KSĐT ngày 12/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trần Quốc H về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo H theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo H từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng; thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo H cho UBND xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Bị cáo H sẽ phải chịu hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự nếu trong thời gian thử thách bị cáo H cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Trả lại cho bị cáo H 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] mang tên Trần Quốc H
+ Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ trả lại xe ô tô biển kiểm soát 17C - 080.49 và 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 Giấy chứng nhận kiểm định, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe ô tô cho Công ty TNHH L2.
- Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Đại diện hợp pháp của bị hại trình bày ý kiến: Sự việc không may xẩy ra với gia đình bị hại. Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường dân sự xong, gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm; gia đình bị hại xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện của Công ty L2 không tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, một lần nữa bị cáo xin lỗi gia đình bị hại. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Bị cáo mong Hội đồng xét xử mở lượng khoan hồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng và lời khai của những người tham gia tố tụng khác. Ngoài ra còn được chứng minh bằng biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, bản ảnh phương tiện, bản ảnh tử thi, bản kết luận pháp y về tử thi, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 22/02/2024, tại Km83+800 Quốc lộ C thuộc địa phận thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình tại đoạn đường cong, lúc này trời sáng, có mưa, Trần Quốc H có giấy phép lái xe ô tô hợp lệ, điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát 17C-080.49 theo hướng huyện Đ đi huyện T, đã không chú ý quan sát, không giảm tốc độ, khi phát hiện thấy ông Phạm Văn L đang đi bộ qua đường không làm được chủ tốc độ nên phần đầu bên trái xe ô tô do H điều khiển đã va chạm với đầu và thân bên trái ông L, làm ông L ngã ra đường. Hậu quả, ông L bị chết tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T lúc 15 giờ 50 phút cùng ngày.
Trần Quốc H đã vi phạm Điều 12 Luật giao thông đường bộ (quy định cụ thể tại khoản 6, 11 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT của Bộ G1), do đó đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Điều 12. Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe
1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo.
Điều 5. Các trường hợp phải giảm tốc độ
Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
- Khi có người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường;
- Trời mưa; ...
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a) Làm chết người;
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
[3]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây đau khổ cho gia đình nạn nhân. Trong tình hình xã hội hiện nay, tai nạn giao thông đang gây bức xúc cho nhiều người và để lại hậu quả nặng nề cho xã hội; Đảng và Nhà nước có chủ trương và nhiều giải pháp để ngăn chặn tai nạn giao thông nhưng hiệu quả chưa cao, tai nạn giao thông và số người chết vẫn tăng thêm mỗi ngày, vì vậy mỗi người dân phải nêu cao ý thức chấp hành pháp luật giao thông đường bộ để tránh tai nạn giao thông đáng tiếc xẩy ra. Đối với Trần Quốc H đây là bài học về ý thức chấp hành giao thông đường bộ.
[4]. Khi quyết định hình phạt, xét thấy:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s); tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại (điểm b). Ngoài ra bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như: Bị hại có một phần lỗi (đi bộ sang đường tại nơi không có đèn tín hiệu, không có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, sang đường không đảm bảo an toàn vi phạm Điều 32 Luật giao thông đường bộ) và người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[5]. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo tại địa phương và ấn định một thời gian thử thách đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp quy định của pháp luật.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Quốc H và đại diện hợp pháp của bị hại là ông Phạm Văn L đã thỏa thuận số tiền bồi thường thiệt hại tính mạng của ông L là 115.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bị cáo H bồi thường gì thêm. Thỏa thuận giữa các bên là tự nguyện, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với Công ty TNHH L2 có hư hỏng nhẹ xe ô tô, tự khắc phục không có yêu cầu đề nghị gì về việc bồi thường nên không đặt ra giải quyết.
[7]. Về xử lý vật chứng:
- Do không cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo H, nên trả lại cho bị cáo H 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...].
- Chiếc xe ô tô biển kiểm soát 17C - 080.49 và 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 Giấy chứng nhận kiểm định, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe ô tô Cơ quan điều tra đã trả lại chủ sở hữu hợp pháp là đúng pháp luật.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện hợp pháp cho bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Quốc H, phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự;
2. Xử phạt: Trần Quốc H 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm; thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/7/2024.
Giao các bị cáo Trần Quốc H cho UBND xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự, thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 589, 591 Bộ luật dân sự.
Chấp nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Trần Quốc H với đại diện hợp pháp của bị hại ông Phạm Văn L về việc bồi thường thiệt hại tính mạng của ông Phạm Văn L 115.000.000 (trách nhiệm bồi thường đã xong).
4. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại cho bị cáo Trần Quốc H 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...], mang tên Trần Quốc H.
- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ trả lại chiếc xe ô tô biển kiểm soát 17C - 080.49 và 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 Giấy chứng nhận kiểm định, 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của xe ô tô cho Công ty TNHH L2.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Bị cáo Trần Quốc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày (kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đối với người có mặt tại phiên tòa, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật đối với người vắng mặt tại phiên tòa)
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đã ký Lê Kiên Trung |
Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 68/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc Hạnh- Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ
