|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2023/HNGĐ-PT Ngày: 15-11-2023 V/v tranh chấp “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Lâm Ngọc Tuyền
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Ánh Phương
Bà Đỗ Thị Minh Nguyệt
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Đào Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2023/TLPT-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 323/2023/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 744/2023/QĐ-PT ngày 11 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hứa Thị Kiều C, sinh năm 1994 (có mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Địa chỉ liên hệ: ấp B, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1984 (có mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Thanh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo án sơ thẩm:
* Nguyên đơn chị Hứa Thị Kiều C trình bày:
Chị và anh Nguyễn Thanh T tìm hiểu từ năm 2010, tự nguyện cưới nhau và sống chung từ năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang ngày 04/6/2013. Anh chị sống hạnh phúc đến tháng 10/2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn về kinh tế, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, cuộc sống không hạnh phúc, anh T không quan tâm chăm sóc gia đình. Anh chị nhiều lần hàn gắn tình cảm nhưng không thành, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Nay không còn tình cảm nên chị xin được ly hôn với anh T.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Phúc L, sinh ngày 05/5/2012 và Nguyễn Ngọc Bảo C1, sinh ngày 15/01/2021. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng hai con, yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho mỗi cháu.
Tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn anh Nguyễn Thanh T trình bày:
Anh thống nhất với chị C về thời gian và điều kiện kết hôn. Trong cuộc sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhưng không lớn. Anh còn thương vợ thương con nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung tên Nguyễn Phúc L, sinh ngày 05/5/2012 và Nguyễn Ngọc Bảo C1, sinh ngày 15/01/2021. Trong trường hợp tòa cho ly hôn, anh yêu cầu được nuôi dưỡng cháu L, nhường quyền nuôi cháu C1 cho chị C, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị C vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh T, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho mỗi cháu. Anh T vẫn giữ nguyên lời trình bày của mình.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 323/2023/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang đã căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hứa Thị Kiều C.
Về hôn nhân: Chị Hứa Thị Kiều C được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.
Về con chung: Giao cho chị Hứa Thị Kiều C được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Phúc L, sinh ngày 05/5/2012 và Nguyễn Ngọc Bảo C1, sinh ngày 15/01/2021 cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Trường hợp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai cháu Nguyễn Phúc L và Nguyễn Ngọc B Châu mỗi tháng 1.500.000 đồng cho mỗi cháu. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu khi án có hiệu lực pháp luật đến khi hai cháu đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày chị Hứa Thị Kiều C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Nguyễn Thanh T chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì hàng tháng còn phải trả lãi theo
mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền thỏa thuận thi hành án của các đương sự theo quy định pháp luật.
* Ngày 05/7/2023, bị đơn Nguyễn Thanh T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 323/2023/HNGĐ-ST ngày 22/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo yêu cầu được nuôi con chung là cháu Nguyễn Phúc L, sinh ngày 05/5/2012.
Tại phiên tòa phúc thẩm; nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, hai bên đương sự không thỏa thuận được với nhau việc giải quyết vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung, tại phiên tòa phúc thẩm cháu Nguyễn Phúc L có ý kiến muốn được chung sống với mẹ, do đó yêu cầu kháng cáo của anh T là không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm. .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: nguyên đơn chị Hứa Thị Kiều C khởi kiện yêu cầu xin ly hôn và nuôi con với anh Nguyễn Thanh T, án sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là xin ly hôn và nuôi con là có căn cứ đúng quy định tại Điều 56,81 Luật hôn nhân và gia đình.
[2] Về thủ tục tố tụng: tranh chấp giữa nguyên đơn chị C với bị đơn anh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Đơn kháng cáo anh Nguyễn Thanh T đúng quy định tại Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về nội dung kháng cáo: bị đơn Nguyễn Thanh T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 323/2023/HNGĐ-ST ngày 22/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo yêu cầu được nuôi con chung là cháu Nguyễn Phúc L, sinh ngày 05/5/2012.
[5] Xét yêu cầu kháng cáo của anh T: cháu Nguyễn Phúc L sinh ngày 05/5/2012 hiện nay đã trên 7 tuổi, tại bản tự khai ngày 19/2/2023 và tại phiên tòa phúc thẩm cháu Nguyễn Phúc L có ý kiến cha mẹ ly hôn cháu muốn được sống
với mẹ, vì theo cháu trình bày: “con ở với cha con buồn, cha đi nhậu bỏ con một mình con sợ, cha không lo cho con”, hiện nay hai cháu L và C1 đang sống với chị C đã ổn định về chỗ ở, điều kiện sinh hoạt. Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định giao cháu L và cháu C1 cho chị C nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 và 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Do đó yêu cầu kháng cáo của anh T không có căn cứ để chấp nhận.
[6] Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7] Ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[8] Về án phí phúc thẩm: do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T, nên anh T phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Thanh T.
Giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 323/2023/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hứa Thị Kiều C.
- Về hôn nhân: Chị Hứa Thị Kiều C được ly hôn với anh Nguyễn Thanh T.
- Về con chung: Giao cho chị Hứa Thị Kiều C được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Nguyễn Phúc L, sinh ngày 05/5/2012 và Nguyễn Ngọc Bảo C1, sinh ngày 15/01/2021 cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Trường hợp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai cháu Nguyễn Phúc L và Nguyễn Ngọc B Châu mỗi tháng 1.500.000 đồng cho mỗi cháu. Thời gian cấp dưỡng bắt đầu khi án có hiệu lực pháp luật đến khi hai cháu đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày chị Hứa Thị Kiều C có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Nguyễn Thanh T chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì hàng tháng còn phải trả lãi theo
mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Về án phí: Chị Hứa Thị Kiều C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà chị đã nộp theo biên lai thu số 0025656 ngày 21/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, nên xem như chị đã nộp xong.
Anh Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm, được được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà anh T đã nộp theo biên lai thu số 0026102 ngày 05/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, nên xem như nộp xong án phí phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Ngọc Tuyền |
Bản án số 68/2023/HNGĐ-PT ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG về xin ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 68/2023/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con chung
