|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 68/2024/HS-ST Ngày 15-7-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Truyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Sơn Ken
Ông Tăng Tùng Chân
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Nở, Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 71/2024/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Bị cáo Đổ Thành L, sinh ngày 01/01/1987, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở trước khi bị bắt ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đổ Thành S (chết) và bà Huỳnh Thị Ngọc G, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 04/9/2020 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép theo Quyết định số 201/QĐ-XPHC; Bị cáo bị khởi tố vào ngày 14/3/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam vào ngày 19/3/2024 cho đến nay, có mặt.
- Bị cáo Thạch T, sinh ngày 03/02/1992, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở trước khi bị bắt ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch T1, sinh năm 1969 và bà Dương Lệ T2, sinh năm 1972; bị cáo có vợ tên Diệp Thị Thanh D, sinh năm 1992 và 01 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/10/2020 bị Ủy ban nhân dân huyện T xử phạt 7.500.000 đồng về hành vi rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác đánh bạc trái phép theo Quyết định số 3605/QĐXPHC; Bị cáo bị khởi tố vào ngày 14/3/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam vào ngày 19/3/2024 cho đến nay, có mặt.
- Bị cáo Từ Phước Đ, sinh ngày 01/01/1968, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở trước khi bị bắt ấp Ô, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Từ Văn T3 (chết) và bà Lê Thị H (chết); bị cáo có vợ tên Ngô Thị Mỹ L1, sinh năm 1967 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1990; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bị Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh kết án 02 năm 06 tháng tù về tội đánh bạc theo bản án hình sự phúc thẩm số 39/HSPT, ngày 08/5/2017, đã xoá án tích; Bị cáo bị khởi tố vào ngày 14/3/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam vào ngày 19/3/2024 cho đến nay, có mặt.
- Bị cáo Tô Văn T4, sinh ngày 09/10/1996, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp Ô, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Văn T5, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Tuyết P, sinh năm 1975; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị H1, sinh năm 1995 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép theo Quyết định số 147/QĐ-XPHC, ngày 30/9/2021 của Công an huyện T; Bị cáo bị khởi tố vào ngày 14/3/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày 31/5/2024, có mặt.
- Bị cáo Huỳnh Thanh T6, sinh ngày 16/02/1988, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T7 (chết) và bà Nguyễn Thị Mỹ L2, sinh năm 1963; bị cáo có vợ tên Ngô Thị P1, sinh năm 1987 (đã ly hôn) và 01 người con, sinh năm 2010; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa từng bị kết án, chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý hành chính. Bị cáo bị khởi tố vào ngày 14/3/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến ngày 31/5/2024, có mặt.
- Bị cáo Nguyễn Văn N, sinh ngày 10/3/1988, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp Ô, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Chăn nuôi; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1960 và bà Võ Thị H2, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân; Chưa từng bị kết án, chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý hành chính; Bị cáo bị khởi tố vào ngày 14/3/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày 31/5/2024, có mặt.
- Bị cáo Phan Thanh P2, sinh ngày 25/12/1974, tại huyện T, tỉnh Trà Vinh; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại ấp Ô, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Chăn nuôi; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Ầ (chết) và bà Trương Thị H3, sinh năm 1951; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị P3, sinh năm 1981 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 19/02/2009 bị Công an huyện T phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép theo Quyết định số 102/QĐ-XPHC; ngày 03/3/2017 bị Toà án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh kết án về tội đánh bạc với hình phạt chính 5.000.000 đồng theo bản án hình sự sơ thẩm số 08/HSST; Bị cáo bị khởi tố vào ngày 14/3/2024 và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến ngày 31/5/2024, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N: Ông Nguyễn Văn G1, Luật sư của Văn phòng L4 thuộc Đoàn luật sư tỉnh T, có mặt.
Người làm chứng:
Ông Lâm Anh D1, sinh năm 1952. Nơi cư trú ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20 giờ 35 phút ngày 06/3/2024, Công an xã P tiến hành kiểm tra và phát hiện tại khu vực đất trống thuộc ấp Ô, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh các bị cáo đang tham gia đánh bạc gồm: Bị cáo Đổ Thành L; bị cáo Thạch T; bị cáo Tô Văn T4; bị cáo Từ Phước Đ; bị cáo Nguyễn Văn N; bị cáo Phan Thanh P2; bị cáo Huỳnh Thanh T6 và một số đối tượng đã nghỉ chơi và rời khỏi hiện trường trước thời điểm Công an vào kiểm tra (không rõ họ tên, địa chỉ). Sau đó, tiến hành mời các bị cáo nêu trên về trụ sở Công an để làm việc.
Tại Cơ quan Công an các bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, hình thức đánh bạc và sử dụng số tiền vào mục đích để đánh bạc, cụ thể như sau: Vào khoảng 12 giờ ngày 06/3/2024, bị cáo Đổ Thành L đến quán C thuộc ấp Ô, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh để uống cà phê. Khi đến quán, bị cáo L thấy có nhiều người ngồi uống cà phê, trong đó có bị cáo Đ và một số người không rõ họ tên và địa chỉ. Sau đó, bị cáo L, bị cáo Đ và những người có mặt tại quán cà phê cùng rủ nhau đến khu vực đất trống trong vườn dừa của ông Võ Tuấn T8 chơi bầu cua cá cược thắng thua bằng tiền với nhau, tất cả đồng ý và cùng đi. Khi đến địa điểm đã bàn bạc, do không ai đứng ra làm nhà cái và chưa có bộ dụng cụ chơi bầu cua nên bị cáo L nói với mọi người là sẽ làm nhà cái rồi quay trở về nhà bị cáo L lấy bộ dụng cụ chơi bầu cua gồm 01 cái xô bị cắt nữa trên bằng nhựa màu trắng, không có nắp; 01 cái giá của cân đồng hồ bằng kim loại màu trắng; 03 hộp hình lập phương có in hình bầu, cua, nai, tôm, gà, cá ở các mặt; 01 tấm giấy có in hình tương tự như các hộp bầu cua; 01 hộp nhựa trong suốt để đựng bầu cua, đã qua sử dụng quay trở lại và bắt đầu chơi bầu cua cá cược thắng thua bằng tiền với những người nói trên. Bị cáo L là người làm nhà cái và tất cả bắt đầu chơi đánh bạc từ khoảng 13 giờ cùng ngày. Trong quá trình chơi đánh bạc, bị cáo T, bị cáo T4, bị cáo P2, bị cáo T6 và bị cáo N lần lượt đến và cùng tham gia chơi bầu cua với vai trò tay con cá cược trực tiếp với bị cáo L. Các bị cáo tham gia liên tục đến khoảng 20 giờ 35 phút cùng ngày, thì bị lực lượng Công an xã P kiểm tra, phát hiện và mời làm việc.
Về hình thức và số tiền đặt cược bị cáo L quy định như sau:
Trước khi bắt đầu mỗi ván thì bị cáo L sẽ lắc bầu cua và đặt số tiền 300.000 đồng xuống bàn bầu cua cho các tay con đặt cược, sanh sửa, tính tiền thắng thua, chung chi trực tiếp với các tay con. Bị cáo L quy định mức đặt cược mỗi ván thấp nhất là 50.000 đồng, cao nhất là 500.000 đồng mỗi ván, trong đó bị cáo đã đặt xuống 300.000 đồng, nghĩa là số tiền cao nhất các tay con đặt cược sanh sửa không quá 200.000 đồng mỗi ván, nếu tay con thích thì sanh sửa, còn không sanh sửa thì xem như bỏ ván bầu cua đó.
Đặt chính và đặt khe, đặt chính có nghĩa là đặt tiền vào một con bầu cua duy nhất, nếu bị cáo L mở ra đúng con bầu cua đó thì tay con thắng, nếu không ra thì tay con thua. Đặt khe có nghĩa là đặt số tiền cá cược vào khe giữa hai con bầu cua trên bàn với nhau, nếu bị cáo L mở ra kết quả có cả hai con thì tay con thắng, nếu bị cáo L mở ra một trong hai con thì hòa (nghĩa là không thắng, không thua) nếu không ra cả hai con thì bị cáo L thắng số tiền cá cược.
Sanh sửa, cụ thể là bị cáo L bỏ ra số tiền 300.000 đồng chia đều cho các tụ bầu cua, mỗi tụ như vậy là 50.000 đồng nếu không có tay con nào dời thì sẽ bỏ qua ván đó, nếu dời thì sẽ dời số tiền 50.000 đồng đến vị trí tụ bầu cua mà tay con muốn đặt cược, tay con nào muốn đặt cược thêm thì bỏ tiền vào thêm chỗ số tiền 50.000 đồng mà bị cáo L đặt xuống bàn bầu cua. Đối với các tay con còn lại nếu muốn sanh sửa thì dời số tiền của tay con trước đó đã dời của bị cáo L sang tụ bầu cua mới, người cuối cùng sanh sửa là người vừa chịu cá cược với tay con sanh sửa trước đó vừa chịu cá cược với bị cáo L. Khi có kết quả thắng thua bị cáo L nhận lại số tiền 300.000 đồng mà bị cáo để cho tay con sanh sửa, còn thắng thua bị cáo L sẽ tính toán với người sanh sửa cuối cùng.
Bị cáo Đổ Thành L: Khai nhận tham gia với vai trò nhà cái, chuẩn bị dụng cụ đánh bạc và trực tiếp lắc bầu cua, bị cáo bỏ ra số tiền 300.000 đồng cho các tay con sanh sửa và cá cược trực tiếp với các tay con, quy định mức đặt cược thấp nhất là 50.000 đồng và cao nhất là 500.000 đồng mỗi ván. Bị cáo sử dụng số tiền 1.700.000 đồng vào mục đích đánh bạc, kết quả khi lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện thì bị cáo thắng được số tiền 1.600.000 đồng. Cơ quan điều tra tạm giữ số tiền của bị cáo 3.300.000 đồng.
Bị cáo Thạch T: Khai nhận sử dụng số tiền 2.400.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tham gia với hình thức sanh sửa tiền của nhà cái, cá cược liên tục có ván thắng, có ván thua hoặc hòa với nhà cái. Kết quả khi lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bị cáo thua số tiền 650.000 đồng. Cơ quan điều tra tạm giữ số tiền tham gia đánh bạc của bị cáo 1.750.000 đồng.
Bị cáo Từ Phước Đ: Khai nhận sử dụng số tiền 1.500.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tham gia với hình thức đặt cược trực tiếp, không sanh sửa tiền của nhà cái. Bị cáo tham gia được bốn ván, trong đó hai ván thua và hai ván hòa với nhà cái, kết quả khi lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bị cáo thua số tiền 100.000 đồng. Cơ quan điều tra tạm giữ số tiền tham gia đánh bạc của bị cáo 1.400.000 đồng.
Bị cáo Tô Văn T4: Khai nhận sử dụng số tiền 700.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tham gia với hình thức đặt cược trực tiếp, không sanh sửa tiền của nhà cái, cá cược liên tục có ván thắng, có ván thua hoặc hòa với nhà cái. Kết quả khi lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bị cáo thắng số tiền 750.000 đồng. Cơ quan điều tra tạm giữ số tiền tham gia đánh bạc của bị cáo 1.450.000 đồng.
Bị cáo Huỳnh Thanh T6: Khai nhận sử dụng số tiền 800.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tham gia với hình thức đặt cược trực tiếp, không sanh sửa tiền của nhà cái, cá cược liên tục có ván thắng, có ván thua hoặc hòa với nhà cái. Kết quả khi lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bị cáo thua số tiền 50.000 đồng. Cơ quan điều tra tạm giữ số tiền tham gia đánh bạc của bị cáo 750.000 đồng.
Bị cáo Nguyễn Văn N: Khai nhận sử dụng số tiền 1.800.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tham gia với hình thức đặt cược trực tiếp, không sanh sửa tiền của nhà cái, cá cược liên tục có ván thắng, có ván thua hoặc hòa với nhà cái. Kết quả khi lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bị cáo thua số tiền 900.000 đồng. Cơ quan điều tra tạm giữ số tiền tham gia đánh bạc của bị cáo 900.000 đồng.
Bị cáo Phan Thanh P2: Khai nhận sử dụng số tiền 250.000 đồng vào mục đích đánh bạc, tham gia với hình thức đặt cược trực tiếp, không sanh sửa tiền của nhà cái, quá trình tham gia có ván thắng, có ván thua hoặc hòa với nhà cái. Kết quả thua hết số tiền 250.000 đồng, do hết tiền nên bị cáo không tiếp tục tham gia nữa mà ngồi xem các bị cáo tham gia đánh bạc đến khi lực lượng Công an kiểm tra và mời làm việc.
Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của các bị cáo nêu trên là 9.550.000 đồng.
Ngày 08/5/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tạm giữ số tiền tham gia đánh bạc của các bị cáo 9.550.000 đồng (trong đó, bị cáo L số tiền 3.300.000 đồng; bị cáo T số tiền 1.750.000 đồng; bị cáo Đ số tiền 1.400.000 đồng; bị cáo T4 số tiền 1.450.000 đồng; bị cáo T6 số tiền 750.000 đồng và bị cáo N số tiền 900.000 đồng) và bộ D2 lắc bầu cua gồm 01 cái xô bị cắt nữa trên bằng nhựa màu trắng, không có nắp; 01 cái giá của cân đồng hồ bằng kim loại màu trắng; 03 hộp hình lập phương có in hình bầu, cua, nai, tôm, gà, cá ở các mặt; 01 tấm giấy có in hình tương tự như các hộp bầu cua; 01 hộp nhựa trong suốt để đựng bầu cua, đã qua sử dụng; 01 tấm lưới màu trắng dùng làm chiếu bạc có kích thước chiều dài 2,2m, chiều rộng 1,7m, đã qua sử dụng và 01 tấm vải màu tím có nhiều hình ảnh hoa văn dùng để che nắng vị trí đánh bạc có kích thước chiều dài 2,2m, chiều rộng 1,5m, đã qua sử dụng từ bị cáo L.
Đối với ông Võ Tuấn T8 là người quản lý và sử dụng khu đất trống nêu trên. Qua điều tra làm rõ, các bị cáo tự đến và sử dụng phần đất của ông T8 để tham gia đánh bạc, ông T8 hoàn toàn không biết. Do đó, không xem xét xử lý đối với ông T8. Đối với ông Lâm Anh D1, sinh năm 1952 nơi cư trú: ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Thời điểm Công an vào kiểm tra ông D1 có mặt tại hiện trường, nhưng ông D1 không có tham gia đánh bạc. Do đó, không xem xét xử lý đối với ông D1. Riêng đối với các đối tượng đã nghĩ chơi trước thời điểm Công an vào kiểm tra (không rõ họ tên, địa chỉ). Do đó, sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xem xét xử lý sau.
Tại Cáo trạng số 58/CT-VKS-HS, ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố các bị cáo Đổ Thành L, T, Tô Văn T4, Từ Phước Đ, Nguyễn Văn N, Phan Thanh P2 và Huỳnh Thanh T6 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, các bị cáo Đổ Thành L, T, Tô Văn T4, Từ Phước Đ, Nguyễn Văn N, Phan Thanh P2 và Huỳnh Thanh T6 trình bày: Thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền dưới hình thức lắc bầu cua với thời gian, số tiền cá cược với nhau như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh truy tố. Tại phiên toà, các bị cáo xác nhận lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra là do các bị cáo tự nguyện khai ra mà không bị ai ép buộc, dụ dỗ, các bị cáo không thay đổi lời khai.
Phần luận tội, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, vai trò, tính chất mức độ hành vi của từng bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Kiểm sát viên được phân công thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị tuyên bố các bị cáo Đổ Thành L, T, Tô Văn T4, Từ Phước Đ, Nguyễn Văn N, Phan Thanh P2 và Huỳnh Thanh T6 phạm tội “Đánh bạc”.
Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3, Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58 và 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Từ Phước Đ từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo Từ Phước Đ số tiền 10.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Phan Thanh P2 từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo Phan Thanh P2 số tiền 10.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3, Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58 và 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Đổ Thành L từ 12 tháng đến 18 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo Đổ Thành L số tiền 15.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Thạch T từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo Thạch T số tiền 10.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
Đề nghị áp dụng khoản 1, Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 58 và 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Tô Văn T4 từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T6 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 9.550.000 đồng (bị cáo L 3.300.000 đồng; bị cáo T 1.750.000 đồng; bị cáo Đ 1.400.000 đồng; bị cáo T4 1.450.000 đồng; bị cáo T6 750.000 đồng và bị cáo N 900.000 đồng) là tiền dùng vào việc phạm tội.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đề nghị buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo không tự bào chữa,
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N phát biểu: Thống nhất với cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát việc truy tố bị cáo N về tội “Đánh bạc” là có căn cứ. Tuy nhiên, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo N vì động cơ thu lợi bất chính nên đã tham gia đánh bạc. Sau khi vụ án xảy ra, bị cáo N đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có học vấn thấp nên am hiểu pháp luật hạn chế, bị cáo còn là lao động chính có nhiều người thân có công với cách mạng. Bị cáo N có đủ các điều kiện hưởng án treo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo.
Bị cáo Nguyễn Văn N thống nhất quan điểm bào chữa của người bào chữa mà không bổ sung gì thêm.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo Đổ Thành L, T, Tô Văn T4, Từ Phước Đ, Nguyễn Văn N, Phan Thanh P2 và Huỳnh Thanh T6 là phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với thời gian các bị cáo có mặt tại hiện trường vụ án, phù hợp lời khai của người làm chứng và biên bản sự việc do Công an xã P, huyện T lập ngày 06/3/2024, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng. Qua tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ chứng cứ kết luận khoảng 20 giờ 35 phút ngày 06/3/2024, tại khu vực đất trống thuộc ấp Ô, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh, các bị cáo Đổ Thành L, T, Tô Văn T4, Từ Phước Đ, Nguyễn Văn N, Phan Thanh P2 và Huỳnh Thanh T6 đã có hành vi đánh bạc trái phép thắng, thua bằng tiền dưới hình thức lắc bầu cua cùng một số đối tượng khác thì bị kiểm tra phát hiện và bị Công an xã P lập biên bản.
[2] Bị cáo Đổ Thành L sử dụng số tiền 1.700.000 đồng vào mục đích đánh bạc, kết quả khi lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện thì bị cáo thắng được số tiền 1.600.000 đồng, cơ quan điều tra tạm giữ của bị cáo số tiền 3.300.000 đồng. Bị cáo Thạch T sử dụng số tiền 2.400.000 đồng vào mục đích đánh bạc, kết quả khi lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bị cáo thua số tiền 650.000 đồng, cơ quan điều tra tạm giữ của bị cáo số tiền 1.750.000 đồng. Bị cáo Từ Phước Đ sử dụng số tiền 1.500.000 đồng vào mục đích đánh bạc, kết quả khi lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bị cáo thua số tiền 100.000 đồng, cơ quan điều tra tạm giữ của bị cáo số tiền 1.400.000 đồng. Bị cáo Tô Văn T4 sử dụng số tiền 700.000 đồng vào mục đích đánh bạc, kết quả khi lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bị cáo thắng số tiền 750.000 đồng, cơ quan điều tra tạm giữ của bị cáo số tiền 1.450.000 đồng. Bị cáo Huỳnh Thanh T6 sử dụng số tiền 800.000 đồng vào mục đích đánh bạc, kết quả khi lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bị cáo thua số tiền 50.000 đồng, cơ quan điều tra tạm giữ của bị cáo số tiền 750.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn N sử dụng số tiền 1.800.000 đồng vào mục đích đánh bạc, kết quả khi lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bị cáo thua số tiền 900.000 đồng, cơ quan điều tra tạm giữ của bị cáo số tiền 900.000 đồng và bị cáo Phan Thanh P2 sử dụng số tiền 250.000 đồng vào mục đích đánh bạc, kết quả thua hết số tiền 250.000 đồng, do hết tiền nên bị cáo ngồi xem các bị cáo tham gia đánh bạc đến khi lực lượng Công an kiểm tra và mời làm việc. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của các bị cáo nêu trên là 9.550.000 đồng. Mặc dù, số tiền của mỗi bị cáo dùng đánh bạc dưới 5.000.0000 đồng, nhưng hình thức đánh bạc trái phép lắc bầu cua thì các bị cáo trực tiếp ăn thua với nhau nên tiền dùng đánh bạc của từng bị cáo để chịu trách nhiệm hình sự là tổng số tiền của các bị cáo cùng tham gia đánh bạc bằng là 9.550.000 đồng.
[3] Hành vi đánh bạc trái phép của các bị cáo Đổ Thành L, T, Tô Văn T4, Từ Phước Đ, Nguyễn Văn N, Phan Thanh P2 và Huỳnh Thanh T6 đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương, đánh bạc trái phép là một trong các nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác gây nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Động cơ, mục đích của các bị cáo là nhằm thu lợi bất chính. Hành vi đánh bạc trái phép của các bị cáo Đổ Thành L, T, Tô Văn T4, Từ Phước Đ, Nguyễn Văn N, Phan Thanh P2 và Huỳnh Thanh T6 đã phạm vào tội đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Bị cáo Đỗ Thành L3, Thạch T, Từ P, Tô Văn T4 và Phan Thanh P2 là người có nhân thân xấu, trong đó bị cáo L3, T và T4 đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép (đã hết thời hiệu được coi là chưa bị xử phạt hành chính), bị cáo Đ và bị cáo P2 đã từng bị kết án về tội đánh bạc trái phép, nhưng đã được xoá án tích. Tội phạm các bị cáo thực hiện ít nghiêm trọng, bị L3 là người chuẩn bị bộ dụng cụ chơi bầu cua để giúp cho các bị cáo khác cùng tham gia đánh bạc nên bị cáo L3 có vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Thạch T sử dụng số tiền đánh bạc cao nhất bằng 2.400.000 đồng. Bị cáo N có nhân thân tốt nhưng sử dụng số tiền đánh bạc 1.800.000 đồng, bị cáo L3 sử dụng số tiền đánh bạc 1.700.000 đồng, bị cáo Từ Phước Đ sử dụng số tiền đánh bạc 1.500.000 đồng, bị cáo T6 sử dụng số tiền đánh bạc 800.000 đồng, bị cáo Tình sử d số tiền đánh bạc 700.000 đồng và bị cáo P2 sử dụng số tiền đánh bạc ít nhất là 250.000 đồng. Để góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, hành vi của các bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tiếp tục cách ly các bị cáo L3, bị cáo T, bị cáo Đ ra khỏi xã hội thêm một thời gian để các bị cáo thấy được sự nghiêm minh của pháp luật mà sửa chữa sai lầm của mình và để răn đe, phòng ngừa cho xã hội đối với những hành vi tương tự. Đồng thời, xử phạt bổ sung mỗi bị cáo một khoản tiền nhất định sung vào ngân sách nhà nước, tước đi lợi ích vật chất của các bị cáo, qua đó tác động để nâng cao ý thức, thái độ của bị cáo trong việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật ở địa phương.
[5] Đối với bị cáo P2 tuy có nhân thân xấu, nhưng số tiền bị cáo P2 sử dụng đánh bạc chỉ có 250.000 đồng và ít nhất trong số các bị cáo trong vụ án và không tham gia xuyên suốt quá trình từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo P2 tù có thời hạn là quá nghiêm khắc, Hội đồng xét xử xét thấy không cách ly bị cáo P2, bị cáo T4, bị cáo N và bị cáo T6 ra khỏi xã hội, nhưng cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính một cách nghiêm khắc đối với mỗi bị cáo, tác động đến lợi ích kinh tế của các bị cáo, để các bị cáo sửa chữa hành vi sai trái của mình, nếu tái phạm sẽ bị nghiêm trị.
[6] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo N là quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Đổ Thành L, T, Tô Văn T4, Từ Phước Đ, Nguyễn Văn N, Phan Thanh P2 và Huỳnh Thanh T6 đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; trừ bị cáo Đ và bị cáo P2 ra thì các bị cáo N, T6, L, T4 và T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; xét số tiền đánh bạc không lớn, quy mô số người tham gia ít, các bị cáo T, L, Đ là lao động chính; riêng bị cáo N, T6 có nhân thân tốt. Bị cáo N, P2, T4, Đ thuộc diện gia đình có nhiều người thân có công cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tương ứng tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự (riêng bị cáo Đ và bị cáo P2 không được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự). Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[11] Xử lý vật chứng: Đối với 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua gồm:
- 01 cái xô bị cắt nữa trên bằng nhựa màu trắng, không có nắp;
- 01 cái giá của cân đồng hồ bằng kim loại màu trắng;
- 03 hộp hình lập phương có in hình bầu, cua, nai, tôm, gà, cá ở các mặt;
- 01 tấm giấy có in hình tương tự như các hộp bầu cua;
- 01 hộp nhựa trong suốt để đựng bầu cua, đã qua sử dụng;
- 01 tấm lưới màu trắng dùng làm chiếu bạc có kích thước chiều dài 2,2m, chiều rộng 1,7m, đã qua sử dụng.
- 01 tấm vải màu tím có nhiều hình ảnh hoa văn dùng để che nắng vị trí đánh bạc có kích thước chiều dài 2,2m, chiều rộng 1,5m, đã qua sử dụng.
Đây cũng là phương tiện dùng vào việc đánh bạc không có giá trị sử dụng nên cần phải bị tịch thu và tiêu huỷ. Đối với số tiền 9.550.000 đồng (bị cáo L số tiền 3.300.000 đồng; bị cáo T số tiền 1.750.000 đồng; bị cáo Đ số tiền 1.400.000 đồng; bị cáo T4 số tiền 1.450.000 đồng; bị cáo T6 số tiền 750.000 đồng và bị cáo N số tiền 900.000 đồng) là tiền dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[7] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Trong quá trình điều tra, truy tố những người tham gia tố tụng không có ai khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N. Qua kiểm tra và thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố: Các bị cáo Đổ Thành L, Thạch T phạm tội “Đánh bạc” .
Xử phạt bị cáo Đổ Thành L 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2024. Xử phạt bổ sung bị cáo Đổ Thành L số tiền 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng sung vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Thạch T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2024. Xử phạt bổ sung bị cáo Thạch T số tiền 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng sung vào ngân sách nhà nước.
Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Từ Phước Đ phạm tội “Đánh bạc” .
Xử phạt bị cáo Từ Phước Đ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/3/2024. Xử phạt bổ sung bị cáo Từ Phước Đ số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng sung vào ngân sách nhà nước.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Phan Thanh P2 phạm tội “Đánh bạc” .
Xử phạt bị cáo Phan Thanh P2 số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng là hình phạt chính sung vào ngân sách nhà nước.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 58 và Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố: Các bị cáo Tô Văn T4, Nguyễn Văn N và Huỳnh Thanh T6 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Tô Văn T4 số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng là hình phạt chính sung vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T6 số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng là hình phạt chính sung vào ngân sách nhà nước.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng là hình phạt chính sung vào ngân sách nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 9.550.000 đồng (của bị cáo L số tiền 3.300.000 đồng; bị cáo T số tiền 1.750.000 đồng; bị cáo Đ số tiền 1.400.000 đồng; bị cáo T4 số tiền 1.450.000 đồng; bị cáo T6 số tiền 750.000 đồng và bị cáo N số tiền 900.000 đồng).
Tịch thu và tiêu huỷ 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua gồm:
- 01 cái xô bị cắt nữa trên bằng nhựa màu trắng, không có nắp;
- 01 cái giá của cân đồng hồ bằng kim loại màu trắng;
- 03 hộp hình lập phương có in hình bầu, cua, nai, tôm, gà, cá ở các mặt;
- 01 tấm giấy có in hình tương tự như các hộp bầu cua;
- 01 hộp nhựa trong suốt để đựng bầu cua, đã qua sử dụng;
- 01 tấm lưới màu trắng dùng làm chiếu bạc có kích thước chiều dài 2,2m, chiều rộng 1,7m, đã qua sử dụng.
- 01 tấm vải màu tím có nhiều hình ảnh hoa văn dùng để che nắng vị trí đánh bạc có kích thước chiều dài 2,2m, chiều rộng 1,5m, đã qua sử dụng.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc mỗi bị cáo Đổ Thành L, T, Tô Văn T4, Từ Phước Đ, Nguyễn Văn N, Phan Thanh P2 và Huỳnh Thanh T6 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Đổ Thành L, T, Tô Văn T4, Từ Phước Đ, Nguyễn Văn N, Phan Thanh P2 và Huỳnh Thanh T6 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Truyền |
Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về đánh bạc
- Số bản án: 68/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thành Long va đồng phạm đánh bạc
