Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 68/2024/HS -ST

Ngày 14 - 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Hoàng Dân và ông Nghiêm Xuân Hỏa

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thùy Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Tuấn - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 77/2024/TLST - HS ngày 29/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST - HS ngày 01/11/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân P, sinh năm 1999, tại Hà Nội; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã B, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân D và bà Vũ Thị S; Vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31/12/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo bị C đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1971

Trú tại: Thôn H, xã T, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Trương Tiến G, sinh năm 1996

Trú tại: Thôn H, xã T, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Anh Đinh Mạnh K, sinh năm 1992

Trú tại: Phố B, xã V, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biết tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 27/12/2020, anh Trương Tiến G đi xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS 29Y3-53811 của gia đình đến thôn L, xã B, huyện M, Thành phố Hà Nội chơi thì gặp Nguyễn Xuân P. Cả hai rủ nhau đến nhà Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 1999 cùng thôn với P. Tại nhà Đ, P hỏi mượn xe máy của G đi có việc, G đồng ý và giao xe máy BKS 29Y3-53811 cho P. Sau khi mượn được xe, P đi đến nhà cô ruột là Nguyễn Thị T, sinh năm 1974 cùng thôn với P hỏi vay tiền nhưng không được. Sau đó P đến quán I ở khu vực B thuộc xã A, huyện Ứ cầm cố chiếc điện thoại của P được 800.000 đồng để chơi game. Sau khi chơi hết số tiền, P nảy sinh định cầm cố xe của G để lấy tiền chơi tiếp, nên đã đến quán của anh Đinh Mạnh K ở gần đó hỏi vay 4.200.000 đồng, cam kết đặt lại xe làm tin khi nào trả tiền sẽ nhận lại xe. Anh K đồng ý giao tiền cho P và giữ lại xe. Ngay trong đêm đó P đã sử dụng, ăn chơi hết số tiền này. Đến khoảng 02 giờ ngày 28/12/2020 P đi xe ôm đến nhà Đ gặp Đ và G vẫn ở đó. P nói cho G biết đã cầm cố chiếc xe của G và tiêu hết tiền. G không nhất trí việc P cầm cố xe và yêu cầu P trong khoảng thời gian từ 07 đến 10 ngày phải chuộc xe về trả. Tuy nhiên quá thời hạn trên P không thực hiện, nên ngày 13/01/2021 G có đơn trình báo với Công an xã B, huyện M, Thành phố Hà Nội.

Tại kết luận định giá tài sản số 65/KL-HĐĐG ngày 21/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, BKS: 29Y3 – 53811 có giá trị 16.992.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 67/CT - VKS – MĐ ngày 28/10/2024 của VKSND huyện Mỹ Đức đã truy tố Nguyễn Xuân P về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 của BLHS.

Tại phiên toà:

Bị cáo Nguyễn Xuân P khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, bị cáo đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân P từ 06 đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận được lại xe mà bị cáo đã mượn đi cắm, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Ngoài ra còn đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo, bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đối với bị cáo; các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào không gian, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh, nguyên nhân, diễn biết hành vi; căn cứ lời khai nhận của bị cáo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thì có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 27/12/2020 Nguyễn Xuân P đã mượn chiếc xe máy nhãn hiệu Honda BKS 29Y3-53811, có giá trị 16.992.000 đồng của gia đình anh Trương Tiến G để sử dụng. Sau đó P đã tự ý mang đi cầm cố được 4.200.000 đồng, số tiền này P đã chi tiêu vào mục đích cá nhân. Hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân P đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 của BLHS. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là hoàn toàn chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi không chỉ trực tiếp xâm hại đến quyền được bảo vệ hợp pháp về tài sản của công dân mà còn làm mất trật tự trị an ở địa phương, gây sự phẫn nộ trong dư luận quần chúng nhân dân, hơn nữa trong thời gian Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội chuẩn bị xét xử bị cáo, thì bị cáo lại phạm tội. Vì vậy cần thiết phải xử lý bị cáo với một hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo thấm thía với hành vi sai lầm của mình mà tu tỉnh về sau, đồng thời cũng làm gương cho người khác.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tự nguyện trả lại 4.200.000 đồng cho anh Đinh Mạnh K là các tình tiết quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS mà giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị N đã nhận lại được chiếc xe máy mà bị cáo đã mượn, bà N không có yêu cầu hay đề nghị gì, nên Tòa không xét.

Đối với anh Đinh Mạnh K có hành vị cầm cố chiếc xe máy, anh K không biết đây là tài sản mà bị cáo mượn của người khác, Cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập xử lý, Viện kiểm sát không đề nghị là có căn cứ.

Ngoài ra buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

    Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Xuân P 07 (Bẩy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Xuân P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án, phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án, phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Nơi nhận;

  • - Trung tâm Lý lịch tư pháp TW - Bộ tư pháp;
  • - TAND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Công an huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - UBND xã Bột Xuyên;
  • - Bị cáo ;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lã Phi Hùng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS -ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 68/2024/HS -ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân P - Lạm dụng tín nhiệm CĐTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger