Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TÂN CHÂU

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 68/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 14/8/2023

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia

đình, ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Dẫm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lưu Văn Hoàng;
  2. Bà Thái Trân

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Phan Hoàng Thanh – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 75/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 83/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 74/2023/QĐST-HNGĐ ngày 18/7/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Gia T, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Số E, Lô A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang;

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Số E, Lô A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.

Ông T có mặt tại phiên tòa; bà T1 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là ông Trần Gia T trình bày: Ông T và bà T1 do quen biết nhau từ trước và có tình cảm với nhau nên chung sống như vợ chồng từ năm 1992, không có tổ chức lễ cưới và không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn gây tranh cải nhau thường xuyên, do bất đồng quan điểm sống nên đã không còn chung sống với nhau từ năm 2012 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn nên ông T yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị T1.

Về con chung: Trong thời gian chung sống ông T và bà T1 có 02 (hai) con chung tên Trần Tuấn V, sinh ngày 20/4/1993 (chết năm 2015) và Trần Thị Thúy K, sinh ngày 30/4/1995. Hiện đã trưởng thành và có khả năng lao động, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án số 122/TB-TLVA ngày 13/3/2023 cho bà Nguyễn Thị T1 nhưng do bà T1 không có mặt tại địa phương nên Tòa án đã tiến hành lập biên bản không thực hiện được việc cấp, tống đạt và thực hiện thủ tục niêm yết công khai có xác nhận của đại diện chính quyền địa phương cho bà T1 biết về việc ông Trần Gia T khởi kiện ly hôn với bà T1 tại Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang nhưng đến nay Tòa án không nhận được văn bản ý kiến của bà T1 đối với yêu cầu của ông T và các tài liệu chứng cứ kèm theo (nếu có) của bà T1 gửi cho Tòa án.

Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu đã ra thông báo mở phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà T1 vắng mặt theo các lần triệu tập của Tòa án nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; bà T1 vắng mặt.

Ngày 01/6/2023, Tòa án ban hành Thông báo số 54/TB-TA về việc công khai tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập cho bà Nguyễn Thị T1 được biết thông qua việc thực hiện thủ tục niêm yết công khai có xác nhận của đại diện khóm L C và đại diện phường L nhưng bà T1 không gửi văn bản ghi ý kiến của bà T1 cho Tòa án.

Tại phiên tòa, bà T1 vắng mặt, ông T cương quyết yêu cầu ly hôn với bà T1.

Hội đồng xét xử công bố biên bản không lấy được lời khai của Nguyễn Thị T1; Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư của bà Nguyễn Thị T1. Cụ thể:

Ngày 29/5/2023 Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu tiến hành lập biên bản không lấy được lời khai bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Số E, Lô A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang có sự chứng kiến của Ban K1.

Ngày 30/5/2023 Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu tiến hành xác minh tình trạng cư trú của bị đơn bà Nguyễn Thị T1 được biết bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973; Nơi thường trú: Đường N, tổ B, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Nơi ở hiện tại: Đường N, tổ B, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (theo Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu Quốc gia về dân cư của bà Nguyễn Thị T1).

Theo công văn số 61/UBND ngày 11/5/2023 của Ủy ban nhân dân phường L về việc xác nhận hộ tịch được biết: “Qua tra cứu sổ bộ lưu trữ hộ tịch tại Ủy ban nhân dân phường L từ ngày 24/11/2009 đến nay không tìm thấy hồ sơ đăng ký kết hôn của ông Trần Gia T, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973 trong sổ bộ”.

Tòa án không tiến hành hòa giải về tình cảm do ông T và bà T1 không đăng ký kết hôn, không hòa giải về con chung do các con chung đã trưởng thành;

Tại phiên tòa, Ông Trần Gia T vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày giai đoạn chuẩn bị xét xử, bà Nguyễn Thị T1 vắng mặt không có đơn xin xét xử vắng mặt.

Hội đồng xét xử công bố kết quả xác nhận tình trạng hôn nhân của Ủy ban nhân dân phường L về việc ông Trần Gia T và bà Nguyễn Thị T1 không đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.

- Phát biểu của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 68, Điều 97, Điều 191, Điều 195, Điều 196 và Điều 203 BLTTDS năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 vắng mặt; Nguyên đơn ông Trần Gia T thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ hồ sơ vụ án, tài liệu chứng cứ, kết quả tranh luận tại phiên tòa:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ giữa ông Trần Gia T và bà Nguyễn Thị T1 xây dựng trên cơ sở quen biết nhau từ trước, có tình cảm với nhau nên chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1992, không có tổ chức lễ cưới và không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên đã không còn chung sống với nhau từ năm 2012 đến nay.

Xét thấy, hôn nhân giữa ông Trần Gia T và bà Nguyễn Thị T1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không đăng ký theo quy định nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Do đó, có cơ sở không công nhận ông Trần Gia T và bà Nguyễn Thị T1 là vợ chồng.

Về nuôi con chung: Ông T và bà T1 có 02 (hai) con chung tên Trần Tuấn V, sinh ngày 20/4/1993 (chết năm 2015) và Trần Thị Thúy K, sinh ngày 30/4/1995. Hiện con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết. Nếu sau này giữa ông T và bà T1 có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì được giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Căn cứ Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Trần Gia T và bà Nguyễn Thị T1.
  • - Về án phí: Đương sự phải tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

*Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền: Ông Trần Gia T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị T1. Bà T1 có nơi cư trú: Số E, Lô A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Nguyễn Thị T1 được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

* Về nội dung:

[1] Về quan hệ hôn nhân:

Vào năm 1992, ông T và bà T1 do quen biết nhau từ trước và có tình cảm với nhau nên chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1992 đến nay, không có tổ chức lễ cưới và không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu, ông T và bà T1 chung sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn gây tranh cãi thường xuyên, nguyên nhân bất đồng quan điểm sống và không sống chung nhau từ năm 2012 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm giữa không còn nên ông T yêu cầu ly hôn với bà T1.

Theo kết quả xác nhận tình trạng hôn nhân của Ủy ban nhân dân phường L, thị xã T, tỉnh An Giang: Từ ngày 24/11/2009 đến nay ông Trần Gia T và bà Nguyễn Thị T1 chưa có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng”.

Tại khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này”.

Ông T và bà T1 chung sống với nhau có đủ điều kiện kết hôn nhưng không đăng ký kết hôn. Xét, không công nhận ông Trần Gia T và bà Nguyễn Thị T1 là vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Về con chung: Ông T và bà T1 có 02 (hai) con chung tên Trần Tuấn V, sinh ngày 20/4/1993 (chết năm 2015) và Trần Thị Thúy K, sinh ngày 30/4/1995. Hiện con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông T khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, nếu sau này giữa ông T và bà T1 có phát sinh tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì được giải quyết bằng vụ án khác.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, ông T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà đã nộp. Bà T1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[5] Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về quan điểm giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

XỬ:

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Trần Gia T và bà Nguyễn Thị T1 là vợ chồng.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Ông Trần Gia T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0007379 ngày 10 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; Ông Trần Gia T đã nộp đủ án phí.

Bà Nguyễn Thị T1 không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông T có quyền kháng cáo để Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của bà T1 là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TX. Tân Châu;
  • - Chi cục THADS TX. Tân Châu;
  • - Toà án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Dẫm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2023/HNGĐ-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 68/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung giữa T với T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger