Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14-6-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh Bình
  2. Bà Nguyễn Thị Bình;

-Thư ký phiên tòa: Trịnh Văn Ngọc-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh,

tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia

phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng– Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 92/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15/3/2024, về: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 83/2024/QÐST-HNGĐ, 27/5/2024; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1990. Có mặt.
  2. Địa chỉ: Số A đường số A, tổ E, thôn A, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

  3. Bị đơn: Anh Trần Minh Đ, sinh 1987. Vắng mặt.
  4. Địa chỉ: Số A đường số A, tổ E, thôn A, xã V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ghi ngày 5/3/2024, cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo, trong quá trình hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày: Chị N và anh Đại tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện Đ vào năm 2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, từ năm 2019 cho đến nay anh Đại sinh ra ăn chơi, không làm gì ra tiền; nếu có ai thuê làm việc gì thì đi làm và lấy tiền để ăn chơi, chứ không đem về lo cho các con. Thời gian gần đây anh Đ thường xuyên chửi bới gia đình chị N, nên chị N bức xúc và làm đơn ly hôn. Chị N và anh Đ có 03 con chung: Trần Minh H, sinh ngày 13/10/2009; Trần Minh Khánh P, sinh ngày 29/12/2014 và Trần Thị Như Ý, sinh ngày 24/9/2019. Các con hiện đang sống cùng chị N. Nếu ly hôn chị N yêu cầu nuôi cả 03 con và yêu cầu anh Đ cấp dưỡng cho mỗi con 01 tháng 600.000 đồng. Vì bản thân anh Đ không chịu lao động, hiện tại vẫn ăn bám, nên không thể giao con cho anh Đ nuôi dưỡng. Chị N hiện làm công nhân thu nhập khoảng 7.000.000 đồng mỗi tháng. Tài sản không tranh chấp.

Trong quá trình giải quyết vụ án anh Đ không tham gia tố tụng, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Đ về nội dung khởi kiện của chị N. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho anh Đ biết. Tuy nhiên, đến hôm nay anh Đ vẫn không có phản đối hay có kiến gì về khởi kiện của chị N.

Qua xác minh cho thấy vợ chồng chị N và anh Đ phát sinh mâu thuẩn từ 05 năm nay. Về nguyên nhân là do anh Đ không chịu làm ăn, không có nghề nghiệp, hay tụ tập bạn bè đi chơi, thậm chí còn có hành vi vi phạm pháp luật; không có thiện chí nuôi và lo cho con.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận phát biểu ý kiến:

Về thủ tục: Thẩm phán đã thụ lý hồ sơ vụ án đúng thẩm quyền, gửi thông báo cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh và các đương sự đúng thời hạn luật định, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Đối với Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử vụ án theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng dân sự đã quy định, Thư ký phiên tòa thực hiện thủ tục tố tụng đúng quy định.

Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không tuân thủ đúng quy định. Bị đơn vắng mặt đến lần thứ hai, nên xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa hai bên là hợp pháp. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, hôn nhân không hạnh phúc, nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Giao con cho nguyên đơn nuôi là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh tụng Tòa án nhận định như sau:

[1] Về việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung, yêu cầu tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định đây là vụ án: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thẩm quyền: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo quy định tại khoản 1, Điều 35 và khoản 1, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về việc vắng mặt của đương sự: Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[4] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Phạm Thị N và anh Trần Minh Đ là hợp pháp, vì hai bên đều tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại UBND xã V vào năm 2009. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Theo chị N và kết quả xác minh, thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn từ năm 2019 cho đến nay. Về nguyên nhân mâu thuẩn là xuất phát từ việc anh Đ không lo làm ăn, kiếm tiền để lo cho con cái và gia đình, mà sinh ra tụ tập bạn bè uống rượu, không quan tâm đến con cái, thời gian gần đây còn có lời lẽ xúc phạm gia đình chị N. Xét thấy hôn nhân giữa chị N và anh Đ không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu của chị N, giải quyết ly hôn là phù hợp Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cũng như quan điểm phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.

[5] Về tranh chấp nuôi con: Chị N và anh Đ có 03 con chung: Trần Minh H, sinh ngày 13/10/2009; Trần Minh Khánh P, sinh ngày 29/12/2014 và Trần Thị Như Ý, sinh ngày 24/9/2019. Chị N yêu cầu được nuôi cả 03 con và không yêu cầu cấp dưỡng. Vì chị N cho rằng bản thân anh Đ không chịu lao động, để có tiền nuôi con, không có trách nhiệm với con, nên không thể giao con cho anh Đ. Qua lấy ý kiến của các con chị N, anh Đ, thì các cháu đều có nguyện vọng sống với mẹ, không muốn sống với anh Đ. Hiện tại các con của chị N, anh Đ đã lớn, 02 cháu lớn đã biết tự lo cho bản thân và giúp mẹ trông việc trông em và làm việc nhà. Do vậy, nên để cho các cháu sống cùng nhau, để các cháu tương trợ với nhau, tạo sự ổn định về tâm lý và gắn kết tình cảm giữa các cháu. Từ đó, nên giao 03 con cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[6]Về cấp dưỡng: Chị N yêu cầu nuôi cả 03 con; đồng thời yêu cầu anh Đ cấp dưỡng cho mỗi con 01 tháng là 600.000 đồng là phù hợp. Xét thấy việc giao cho chị N nuôi 03 con sau khi ly hôn là khó khăn cho chị N, vì các cháu hiện đang đi học nên cần phải có tiền lo cho các cháu; bản thân chị N làm công nhân thu nhập không cao, chỉ 7.000.000 đồng/tháng. Còn bản thân anh Đ hiện không có nghề nghiệp ổn định, không làm ra tiền, nên chấp nhận mức cấp dưỡng do chị N đề xuất là phù hợp Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[7] Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[8] Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm về cấp dưỡng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[9] Về kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 482 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 15 Luật Trẻ em; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Tuyên bố: Chị Phạm Thị N ly hôn anh Trần Minh Đ.
  2. Về nuôi con: Giao cho chị Phạm Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con: Trần Minh H, sinh ngày 13/10/2009; Trần Minh Khánh P, sinh ngày 29/12/2014 và Trần Thị Như Ý, sinh ngày 24/9/2019. Anh Trần Minh Đ được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
  3. Về cấp dưỡng: Buộc anh Trần Minh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho 03 con: Trần Minh H, sinh ngày 13/10/2009; Trần Minh Khánh P, sinh ngày 29/12/2014 và Trần Thị Như Ý, sinh ngày 24/9/2019; mỗi con 01 tháng là 600.000 đồng. Thời hạn cấp dưỡng tính từ tháng 6/2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi.
  4. Kể từ ngày chị Phạm Thị N có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Trần Minh Đ chậm thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, thì còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Phần cấp dưỡng nuôi con có hiệu lực thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị, khiếu nại, kiến nghị.

  5. Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004276 ngày 15/3/2024. Chị N đã nộp đủ án phí. Anh Trần Minh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng.
  6. Về quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (14/6/2024), bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc ngày niêm yết bản án, để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.
  7. Trường hợp bản án thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

-TAND tỉnh;

-VKSND huyện;

-CCTHADS huyện;

-Đương sự;

-Lưu./

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 68/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xuất phát từ việc ông Đ không quan tâm đến gia đình, có tính hay uống rượu, không lao động, nên vợ chồng phát sinh mâu thuẩn. Bà N thấy không hôn nhân không còn hạnh phúc, nên yêu cầu ly hôn.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger