|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 68/2024/HS-ST Ngày 13 - 9 - 2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Bộ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Thành.
Ông Nguyễn Việt Tú.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thật - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 67/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ tên: Phạm Văn N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 24 tháng 03 năm 1994 tại C, Phú Thọ.
Nơi cư trú: Khu P, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12
Bố đẻ: Phan Văn Đ, sinh năm 1968; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1968 đều trú tại Khu P, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Gia đình bị cáo có 04 chị, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
Vợ: Mai Thị T1, sinh năm 1993.
Con: bị cáo có 03 người con (lớn nhất 09 tuổi, nhỏ nhất 03 tuổi).
Vợ, con bị cáo hiện đang trú tại Khu P, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 22/4/2013 Công an huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 37 xử phạt Phạm Văn N về hành vi “Trực tiếp xâm hại sức khỏe của người khác”. Mức phạt tiền: 1.500.000đ. Phạm Văn N đã chấp hành xong ngày 22/4/2013.
- Ngày 03/9/2019 bị Công an huyện Y, tỉnh Phú Thọ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 80 về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”. Mức phạt tiền: 2.500.000đ. Phạm Văn N chưa chấp hành việc nộp phạt. Công an huyện Y chưa tiến hành các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
- Ngày 30/8/2020 bị Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 78 về hành vi “Tàng trữ, cất giấu trong người đồvật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác và cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”. Mức phạt tiền là: 6.000.000đ. Phạm Văn N chưa chấp hành việc nộp phạt. Công an huyện C chưa tiến hành các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 07/6/2024. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
2. Họ tên: Nguyễn Văn H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 23 tháng 01 năm 1991 tại C, Phú Thọ.
Nơi cư trú: Khu Đ, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12
Bố đẻ: Nguyễn Văn G (Đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị L (Đã chết).
Gia đình bị cáo có 04 chị, em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình.
Vợ, con: chưa có.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Tại bản án số: 40/HSST ngày 18/8/2011, Nguyễn Văn H bị TAND huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Học đã chấp hành xong án phí và toàn bộ quyết định của bản án ngày 15/8/2014, chấp hành xong án phạt tù ngày 26/10/2011. Đến nay H đã được xóa án tích.
- Tại bản án số: 39/HSST ngày 11/7/2012, Nguyễn Văn H bị TAND huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử phạt 12 tháng tù về tội đánh bạc. Học đã chấp hành xong án phí ngày 23/10/2012, chấp hành xong án phạt tù ngày 03/10/2013. Đến nay H đã được xóa án tích.
- Tại bản án số: 20/HSST ngày 13/5/2014, Nguyễn Văn H bị TAND tỉnh Phú Thọ xử phạt 09 tháng tù về tội che giấu tội phạm. Học đã chấp hành xong án phí ngày 13/5/2015, chấp hành xong án phạt tù ngày 15/4/2016. Đến nay H đã được xóa án tích.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 07/6/2024. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
3. Họ tên: Nguyễn Hoài N1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày 29 tháng 01 năm 2003 tại C, Phú Thọ.
Nơi cư trú: Khu Q, xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12
Bố đẻ: Nguyễn Thành Đ1, sinh năm 1978; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1982 đều trú tại xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
Gia đình bị cáo có 02 chị, em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.
Vợ, con: chưa có.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 07/6/2024. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt).
Người bị hại: Anh Nguyễn Hồng H1, sinh năm 1992.
Nơi cư trú: Khu G, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 0 giờ 45 phút, ngày 01/05/2024, anh Nguyễn Hồng H1, sinh năm 1992 ở khu G, TT C, huyện C một mình điều khiển xe ô tô Santa Fe màu đỏ biển kiểm soát 19A-532.42 (mượn của anh Trần T2, sinh năm 1992, ở khu T, TT C, huyện C, tỉnh Phú Thọ để sử dụng làm phương tiện đi lại) đến quán ăn đêm ở số nhà A đường H, thuộc khu Q, TT C, huyện C của chị Phan Thị Lan A, sinh năm 1985 ở khu Đ, xã C làm chủ. Anh H1 đỗ xe ô tô ở lề đường trước cửa quán rồi vào quán gọi món và ngồi ăn tại bàn thứ 4 dãy bàn bên phải từ cửa quán đi vào. Khi anh H1 vào quán chỉ có anh Phan Tiến H2, sinh năm 1982 ở khu G, thị trấn C, huyện C, tỉnh Phú Thọ là người bán hàng cho chị Lan A ở đây. Sau đó, khoảng 0 giờ 50 phút cùng ngày thì có Phạm Văn N, sinh năm 1994, Phạm Văn S, sinh năm 1994 đều ở khu P, xã T; Nguyễn Văn H, sinh năm 1991 ở khu Đ, xã C; H, sinh năm 1990 ở khu G, xã H; Nguyễn Hoài N1, sinh năm 2003 ở khu Q, xã Y; Bùi Văn Q, sinh năm 1994; Bùi Văn H3, sinh năm 1993 ở khu C xã H đến quán ăn đêm trên để ăn đêm. Phạm Văn N cùng những người trên ngồi ăn tại bàn đầu tiên dãy bên trái từ cửa quán đi vào. Lúc này, do đã uống rượu say nên không kiểm soát được bản thân, cho rằng anh Nguyễn Hồng H1 nhìn đểu mình nên Phạm Văn N đi sang chỗ anh H1 đang ngồi ăn, dùng tay phải đấm 01 cái trúng vào vùng mặt của anh H1, anh H1 đứng dậy thì N tiếp tục dùng tay phải đấm 01 cái hướng vào vùng mặt của anh H1 nhưng anh H1 dùng tay phải đỡ được, N đấm cái thứ ba thì anh H1 cúi xuống né nên trúng vào vùng sau gáy anh H1, N dùng tay ghì đầu của anh H1 xuống sàn nhà thì mọi người can ngăn nên anh H1 vùng ra được và bỏ chạy ra ngoài cửa quán. Thấy vậy, Phạm Văn N, Nguyễn Hoài N1, Nguyễn Văn H, Hà Duy H4 đuổi theo anh H1 ra ngoài cửa quán. Phạm Văn S chạy vào trong bếp cầm 01 con dao dạng dao gọt hoa quả, chiều dài 26cm, chuôi dao bằng gỗ màu nâu dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại có 1 cạnh sắc chiều dài 14,5cm, bản rộng nhất 3,5cm; Nguyễn Hoài N1 cầm 01 con dao chiều dài 34cm, chuôi dao bằng gỗ màu nâu dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, có một cạnh sắc, bản rộng nhất 5cm rồi đuổi theo anh H1. Tuy nhiên, anh H1 đã chạy lên xe ô tô biển kiểm soát 19A-532.42 đỗ trước cửa quán ăn và chốt cửa xe.
Lúc này, Phạm Văn N, Nguyễn Hoài N1, Nguyễn Văn H do không đánh được anh H1 nên đã nảy sinh ý định đập phá xe ô tô do anh H1 đang điều khiển để anh H1 xuống xe. N, N1, H đi lại xung quanh xe ô tô để ngăn anh H1 không điều khiển xe đi được. Do những người này đứng xung quanh xe nên anh H1 đã khởi động xe, tiến, lùi xe và đánh lái nhiều hướng khác nhau để tránh những người trên. Quá trình tiến, lùi xe thì xe ô tô va chạm, tì vào người Phạm Văn S và Nguyễn Văn H5 nhưng Phạm Văn S và Nguyễn Văn H5 không bị ngã cũng như không bị thương. Sau đó, Hà Duy H4 chạy vào quán cầm 01 con dao chiều dài 38cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại kích thước 26cm, bản rộng nhất là 08 cm, dao có một cạnh sắc, đầu vuông, có 01 lỗ tròn rồi chạy ra ngoài sân. H4 đã dùng tay vỗ 02 cái và dùng dao gõ nhẹ 02 cái vào phần kính chắn gió bên ghế phụ của xe ô tô để bảo anh H5 di chuyển xe đi và không gây thiệt hại, hư hỏng gì cho xe ô tô. Lúc này Nguyễn Văn H đã nhặt 01 viên gạch dạng gạch chỉ ở vỉa hè kích thước khoảng 15 x 10 x 8(cm) ném về phía xe ô tô và trúng vào khung bảo vệ kính ở ghế phụ phía trước gây ra 01 vết móp, xước sơn xe. Anh H5 tiếp tục lùi, tiến xe để bỏ chạy thì N1 chạy sang phía lề đường đối diện quán ăn. Nguyễn Hoài N1 vừa chửi vừa ném con dao mà N1 cầm ở bếp quán ăn về phía ô tô và trúng vào phần cánh cửa trước bên trái (gần tay nắm cửa) gây ra 01 vết lõm ở cánh cửa xe, con dao bật lại văng ra đường cách cánh cửa bên lái xe ô tô khoảng 1,5m. Thấy vậy Phạm Văn N chạy lại nhặt con dao này và chém vào cửa kính chắn gió bên lái xe ô tô gây nứt, vỡ kính chắn gió. Cùng lúc này H tiếp tục nhặt 01 viên gạch dạng gạch chỉ ở vỉa hè kích thước khoảng 15 x 10 x 8(cm) chạy về phía cánh cửa bên trái xe ô tô và ném viên gạch trên về phía xe ô tô và trúng vào phía trước nắp capo gây ra vết quệt trượt, xước. Quá trình xảy ra sự việc, anh H5 tiến lùi xe ô tô có va quệt vào bồn cây ở vỉa hè và xe máy đỗ trước cửa quán gây ra vết nứt vỡ góc dưới phía trước bên phải ba đờ sốc. Sau đó Công an thị trấn C nhận được tin báo của quần chúng nhân dân về vụ việc, tiến hành lập biên bản sự việc, thu giữ: 01 con dao chiều dài 34cm, chuôi dao bằng gỗ màu nâu dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, có một cạnh sắc, bản rộng nhất 5cm và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình làm việc, anh Phan Tiến H2 giao nộp cho cơ quan điều tra:
- - 01 con dao chiều dài 38cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại kích thước 26cm, bản rộng nhất là 08 cm, dao có một cạnh sắc, đầu vuông, có 01 lỗ tròn.
- - 01 con dao dạng dao gọt hoa quả, chiều dài 26cm, chuôi dao bằng gỗ màu nâu dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại có 1 cạnh sắc chiều dài 14,5cm, bản rộng nhất 3,5cm.
Ngay sau khi xảy ra sự việc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành lấy lời khai các đối tượng, tạm giữ xe ô tô biển kiểm soát 19A- 532.42 và khám xe để xác định thiệt hại, quá trình khám xe ô tô xác định:
- - Tại vị trí khung bảo vệ phía trên của cánh cửa phía trước bên phải (bên phụ) có 01 (một) vết trượt xước kim loại dài 04cm, rộng nhất 03cm, sâu 0,5cm. Đầu vết cách chân gương bên phải 0,75m; điểm cuối cách chân gương bên phải 20,78m, điểm thấp nhất cách mặt đất 1,58m. Dấu vết này bị móp lõm hướng từ ngoài vào trong.
- - Kính chắn gió của cánh cửa trước bên trái (bên lái) bị nứt vỡ trên diện 0,8m x 0,35m, tâm vết vỡ cách mặt đất 1,4m.
- - 1/2 phía trước nắp capo có nhiều vết quệt trượt trên diện 1,2m x 0,4m, có chiều hướng khác nhau.
- - Góc dưới phía trước bên phải ba đờ sốc có vết nứt vỡ trên diện 25cm x 0,3cm.
- - Vết lõm tại cánh cửa trước bên trái kích thước 03cm x 02cm. T3 vết cách mép trên của cửa 04cm, cách mép sau của cửa 30cm.
Ngày 17/05/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C định giá các phần thiệt hại của chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai loại Santa Fe màu đỏ biển kiểm soát 19A-532.42. Ngày 27/05/2024 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:
- - Tại vị trí khung bảo vệ phía trên của cánh cửa phía trước bên phải (bên phụ) có 01 (một) vết trượt xước kim loại dài 04 cm, rộng nhất 03cm, sâu 0,5cm. Đầu vết cách chân gương bên phải 0,75m; điểm cuối cách chân gương bên phải 0,78m, điểm thấp nhất cách mặt đất 1,58m. Dấu vết này bị móp lõm hướng từ ngoài vào trong trị giá: 851.500 đồng.
- - Kính chắn gió của cánh cửa trước bên trái (bên lái) bị nứt vỡ trên diện 0,8m x 0,35m, tâm vết vỡ cách mặt đất 1,4m trị giá: 6.935.500 đồng.
- - 1/2 phía trước nắp capo có nhiều vết quệt trượt trên diện 1,2m x 0,4m, có chiều hướng khác nhau trị giá: 1.250.000 đồng.
- - Góc dưới phía trước bên phải ba đờ sốc có vết nứt vỡ trên diện 25cm x 0,3cm trị giá: 727.500 đồng.
- - Vết lõm tại cánh cửa trước bên trái kích thước 03cm x 02cm. T3 vết cách mép trên của cửa 04cm, cách mép sau của cửa 30cm trị giá: 1.469.500 đồng.
- Tổng giá trị tài sản của xe ô tô bị hư hỏng là: 11.234.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã làm rõ, đối với phần hư hỏng góc dưới phía trước bên phải ba đờ sốc có vết nứt vỡ trên điện 25cm x 0,3cm là do anh Nguyễn Hồng H1 tự gây nên trong quá trình tiến lùi xe, phần thiệt hại này anh H1 không có ý kiến, đề nghị gì. Các phần thiệt hại còn lại của xe ô tô biển kiểm soát 19A-532.42 do Phạm Văn N, Nguyễn Hoài N1, Nguyễn Văn H gây ra có giá trị là: 10.506.000 đồng (mười triệu năm trăm linh sáu nghìn đồng).
Đối với hành vi Phạm Văn N gây thương tích (phần mềm) cho anh Nguyễn Hồng H1, ngày 04/6/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích và Quyết định dẫn giải bị hại giám định thương tích nhưng anh H1 kiên quyết từ chối giám định thương tích, không đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự hành vi gây thương tích của Phạm Văn N.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Phạm Văn N, Nguyễn Hoài N1, Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên. Lời khai của các bị can phù hợp với lời khai của bị hại, dữ liệu camera, kết luận định giá tài sản và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số số 53/CT -VKSCK ngày 17/8/2024 của VKSND huyện Cẩm Khê đã truy tố bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Hoài N1, Nguyễn Văn H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị:
- *Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
- *Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn N.
- *Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoài N1.
- *Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Hoài N1, Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý huỷ hoại tài sản”.
- * Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 07 (Bẩy) tháng tù đến 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- - Xử phạt bị cáo Phạm Văn N từ 07 (Bẩy) tháng tù đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 14 (Mười bốn) tháng đến 18 (Mười tám) tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Văn N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N1 từ 06 (Sáu) tháng tù đến 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 (Mười hai) tháng đến 16 (Mười sáu) tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Hoài N1 cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
- Miễn hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình sự cho các bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Hoài N1.
- * Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Trả lại cho anh Phan Tiến H2:
- - 01 con dao chiều dài 38cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại kích thước 26cm, bản rộng nhất là 08 cm, dao có một cạnh sắc, đầu vuông, có 01 lỗ tròn.
- - 01 con dao dạng dao gọt hoa quả, chiều dài 26cm, chuôi dao bằng gỗ màu nâu dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại có 1 cạnh sắc chiều dài 14,5cm, bản rộng nhất 3,5cm.
- - 01 con dao chiều dài 34cm, chuôi dao bằng gỗ màu nâu dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, có một cạnh sắc, bản rộng nhất 5cm.
- (Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/8/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê).
- *Về trách nhiệm dân sự:
Đối với thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu Huyndai loại Santa Fe màu đỏ biển kiểm soát 19A-532.42 do các đối tượng trên gây ra, anh Nguyễn Hồng H1 yêu cầu các đối tượng bồi thường số tiền 10.506.000 đồng là số tiền thiệt hại đối với các phần hư hỏng của chiếc xe ô tô trên, ngoài ra không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Xác nhận ngày 07/7/2024 Phạm Văn N, Nguyễn Hoài N1, Nguyễn Văn H đã tự nguyện bồi thường cho Nguyễn Hồng H1 số tiền trên. Anh H1 và anh T2 không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật.
Người bị hại vắng mặt tại phiên Tòa. Kiểm sát viên, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt người bị hại. Xét thấy người bị hại đã có lời khai thể hiện trong hồ sơ và việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự để tiếp tục xét xử vụ án là phù hợp.
[2]. Về những chứng cứ xác định có tội được xác định như sau:
Khoảng 0 giờ 50 phút ngày 01/5/2024, tại quán ăn đêm ở số nhà A đường H, thuộc khu Q, TT C, huyện C của chị Phan Thị Lan A, sinh năm 1985 ở khu Đ, xã C, do mâu thuẫn ban đầu giữa Phạm Văn N và anh Nguyễn Hồng H1, sinh năm 1992 ở khu G, TT C, huyện C. Phạm Văn N, Nguyễn Hoài N1, Nguyễn Văn H đã dùng gạch, dao làm hư hỏng tài sản là chiếc xe ô tô do anh Nguyễn Hồng H1 đang điều khiển (anh H1 mượn của anh Trần T2, sinh năm 1992, ở khu T, TT C, huyện C, tỉnh Phú Thọ). Vật chứng thu giữ gồm 01 con dao dài 34cm, rộng 5cm; gạch không xác định được nên không thu giữ. Tổng giá trị thiệt hại do Phạm Văn N, Nguyễn Hoài N1, Nguyễn Văn H gây ra là: 10.506.000 đồng (mười triệu năm trăm linh sáu nghìn đồng).
Hành vi nêu trên của Phạm Văn N, Nguyễn Hoài N1, Nguyễn Văn H đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được Nhà nước bảo vệ và gây mất trật tự, trị an xã hội.
Hành vi nêu trên của Phạm Văn N, Nguyễn Hoài N1, Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
“Điều 178. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, tài sản là di vật, hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa hoặc tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
...”
Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Hoài N1, Nguyễn Văn H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu, do đó, cáo trạng số 53/CT -VKSCK ngày 17/8/2024 của VKSND huyện Cẩm Khê đã truy tố bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Hoài N1, Nguyễn Văn H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có căn cứ chấp nhận.
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Các bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý; mức độ phạm tội là ít nghiêm trọng, các bị cáo đã xâm phạm tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu trong xã hội, nên hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Riêng bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Hoài N1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân của các bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Văn H có nhân thân:
- - Tại bản án số: 40/HSST ngày 18/8/2011, Nguyễn Văn H bị TAND huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Học đã chấp hành xong án phí và toàn bộ quyết định của bản án ngày 15/8/2014, chấp hành xong án phạt tù ngày 26/10/2011. Đến nay H đã được xóa án tích.
- - Tại bản án số: 39/HSST ngày 11/7/2012, Nguyễn Văn H bị TAND huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử phạt 12 tháng tù về tội đánh bạc. Học đã chấp hành xong án phí ngày 23/10/2012, chấp hành xong án phạt tù ngày 03/10/2013. Đến nay H đã được xóa án tích.
- - Tại bản án số: 20/HSST ngày 13/5/2014, Nguyễn Văn H bị TAND tỉnh Phú Thọ xử phạt 09 tháng tù về tội che giấu tội phạm. Học đã chấp hành xong án phí ngày 13/5/2015, chấp hành xong án phạt tù ngày 15/4/2016. Đến nay H đã được xóa án tích.
Bị cáo Phạm Văn N có nhân thân:
- - Ngày 22/4/2013 Công an huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 37 xử phạt Phạm Văn N về hành vi “Trực tiếp xâm hại sức khỏe của người khác”. Mức phạt tiền: 1.500.000đ. Phạm Văn N đã chấp hành xong ngày 22/4/2013.
- - Ngày 03/9/2019 bị Công an huyện Y, tỉnh Phú Thọ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 80 về hành vi “Xâm hại sức khỏe của người khác”. Mức phạt tiền: 2.500.000đ. Phạm Văn N chưa chấp hành việc nộp phạt. Công an huyện Y chưa tiến hành các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
- - Ngày 30/8/2020 bị Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 78 về hành vi “Tàng trữ, cất giấu trong người đồvật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác và cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác”. Mức phạt tiền là: 6.000.000đ. Phạm Văn N chưa chấp hành việc nộp phạt. Công an huyện C chưa tiến hành các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.
Bị cáo Nguyễn Hoài N1 có nhân thân tốt.
Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy rằng: Chỉ cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo H. Đối với bị cáo N, bị cáo N1 chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đảm bảo trừng trị, giáo dục riêng đối với bị cáo cũng như phòng ngừa trong xã hội.
[5]. Về hình phạt bổ sung:
Khoản 5 Điều 178 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 100.000.000đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Xét thấy: Các bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với: 01 con dao chiều dài 34cm, chuôi dao bằng gỗ màu nâu dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, có một cạnh sắc, bản rộng nhất 5cm là tài sản của anh H2, tuy nhiên các bị cáo đã tự lấy và bản thân anh H2 không đưa, không cho các bị cáo mượn để sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho anh H2 chủ sở hữu là phù hợp.
Đối với - 01 con dao chiều dài 38cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại kích thước 26cm, bản rộng nhất là 08 cm, dao có một cạnh sắc, đầu vuông, có 01 lỗ tròn; 01 con dao dạng dao gọt hoa quả, chiều dài 26cm, chuôi dao bằng gỗ màu nâu dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại có 1 cạnh sắc chiều dài 14,5cm, bản rộng nhất 3,5cm. Tạm giữ của anh Phan Tiến H2 là tài sản của anh H2 nên trả lại cho anh H2 là phù hợp.
Đối với: 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai loại Santa Fe màu đỏ biển kiểm soát 19A- 532.42 có số khung: RLUSV81BDLN009831, Số máy: D4HBKU055494, năm sản xuất: 2020 Tạm giữ của anh Nguyễn Hồng H1. Ngày 31/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ đã trả lại cho anh Trần T2, sinh năm 1992, ở khu T, TT C, huyện C, tỉnh Phú Thọ chiếc xe ô tô nhãn hiệu Huyndai loại Santa Fe màu đỏ biển kiểm soát 19A-532.42 là người là chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp. Anh H1 nhất trí không có ý kiến gì. Anh T2 không yêu cầu anh H1 bồi thường gì thêm. Cần xác nhận là hợp pháp.
[7]. Về trách nhiệm dân sự:
Đối với thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu Huyndai loại Santa Fe màu đỏ biển kiểm soát 19A-532.42 do các đối tượng trên gây ra, anh Nguyễn Hồng H1 yêu cầu các đối tượng bồi thường số tiền 10.506.000 đồng là số tiền thiệt hại đối với các phần hư hỏng của chiếc xe ô tô trên, ngoài ra không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Ngày 07/7/2024 Phạm Văn N, Nguyễn Hoài N1, Nguyễn Văn H đã tự nguyện bồi thường cho Nguyễn Hồng H1 số tiền trên. Anh H1 và anh T2 không có yêu cầu, đề nghị gì thêm. Nên cần được xác nhận.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có tranh luận gì.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- *Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
- *Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn N.
- *Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Hoài N1.
- *Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Hoài N1, Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- * Về hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 08 (Tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- - Xử phạt bị cáo Phạm Văn N 08 (Tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 (Mười sáu) tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Phạm Văn N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài N1 07 (Bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 14 (Mười bốn) tháng. Thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Hoài N1 cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ trong việc quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
- * Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - 01 con dao chiều dài 38cm, chuôi dao bằng gỗ dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại kích thước 26cm, bản rộng nhất là 08 cm, dao có một cạnh sắc, đầu vuông, có 01 lỗ tròn.
- - 01 con dao dạng dao gọt hoa quả, chiều dài 26cm, chuôi dao bằng gỗ màu nâu dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại có 1 cạnh sắc chiều dài 14,5cm, bản rộng nhất 3,5cm.
- - 01 con dao chiều dài 34cm, chuôi dao bằng gỗ màu nâu dài 14cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20cm, có một cạnh sắc, bản rộng nhất 5cm.
- *Về trách nhiệm dân sự:
- *Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- *Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án; Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở UBND nơi họ cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
Miễn hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình sự cho các bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Hoài N1.
Trả lại cho anh Phan Tiến H2:
(Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/8/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê).
Đối với thiệt hại của xe ô tô nhãn hiệu Huyndai loại Santa Fe màu đỏ biển kiểm soát 19A-532.42 do các đối tượng trên gây ra, anh Nguyễn Hồng H1 yêu cầu các đối tượng bồi thường số tiền 10.506.000 đồng là số tiền thiệt hại đối với các phần hư hỏng của chiếc xe ô tô trên, ngoài ra không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Ngày 07/7/2024 Phạm Văn N, Nguyễn Hoài N1, Nguyễn Văn H đã tự nguyện bồi thường cho Nguyễn Hồng H1 số tiền trên. Anh H1 và anh T2 không có yêu cầu, đề nghị gì thêm. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
Các bị cáo Phạm Văn N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Hoài N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Bộ |
Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ về cố ý làm hư hỏng tài sản
- Số bản án: 68/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý làm hư hỏng tài sản
