Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BÀ RỊA

TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HS-ST

Ngày: 13-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà : Bà Trần Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Vũ Thị Phương Hạnh

- Ông Lê Văn Công

- Thư ký phiên toà : Bà Phùng Nữ Lệ Chi – Thư ký TAND TP Bà Rịa

- Đại diện VKS ND thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn L– Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 69/2024/HSST ngày 17 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HS ngày 28/5/2024, đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN K1, sinh năm 1996, tại tỉnh Đồng Nai; HKTT và chỗ ở: Tổ A, Ấp H, xã P, huyện L, Bà Rịa - Vũng Tàu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn K, sinh năm 1972; Họ và tên mẹ: Mai Thị L1, sinh năm 1978; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt ngày 24/12/2023 (Bị cáo có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1/ Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 14 giờ ngày 24/12/2023, một người tên là T (không rõ họ tên, địa chỉ) gọi điện cho Nguyễn Văn K1 hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy đá, K1 đồng ý. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, K1 gọi điện cho một người tên Tâm T1 (không rõ họ tên, địa chỉ) để mua một gói ma túy đá với số tiền 600.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, K1 chia gói ma túy thành 2 gói nhỏ và ngậm trong miệng, rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 72K1-549.20 đến vòng xoay H, thành phố B để bán cho T nhưng chưa kịp bán thì bị Công an bắt quả tang.

Tang vật thu giữ: 02 (hai) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu trong suốt, K1 khai là chất ma túy dạng đá; 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda loại Vision, biển kiểm soát: 72K1-549.20;

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn K1 tại ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Cơ quan Công an thu giữ: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.

Qua xét nghiệm chất ma túy, Nguyễn Văn K1 dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.

Tại Bản kết luận giám định số 63/KL-KTHS-MT ngày 29/12/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu A (mẫu chất kết tinh không màu trong suốt thu giữ của Nguyễn Văn K1) gửi giám định có khối lượng 0,1550 gam, là ma túy, loại Methamphetamine

- Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Văn K1 còn khai nhận ngoài lần phạm tội nêu trên, trước đây K1 đã 02 lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện, cụ thể như sau:

  • + Lần thứ nhất: Khoảng 17 giờ ngày 17/12/2023, K1 bán cho T 01 (một) gói ma túy đá với giá 200.000 đồng tại vòng xoay số G, thuộc huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • + Lần thứ hai: Khoảng 19 giờ ngày 21/12/2023, K1 bán cho một người tên B (không rõ họ tên, địa chỉ) 01 gói ma túy đá với giá 200.000 đồng tại khu vực thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

2. Các vấn đề khác:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về Kết luận giám định của Phòng K2 Công an tỉnh B.

3. Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Tại Bản Cáo trạng số 80/CT-VKSBR ngày 16/5/2024, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa truy tố bị cáo Nguyễn Văn Khiên về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX:

  • - Về hình phạt chính: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo K1 với mức án từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm tù;
  • - Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX:
    • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì ghi số 63 ngày 29/12/2023 được Phòng K2, Công an tỉnh B có chữ ký ghi họ tên của Thượng tá Đỗ Ngọc Đ, Hoàng Thị Mai L2, Đinh Hữu T2; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý
    • + Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone, số IMEI: 353903103913149, vì bị cáo dùng điện thoại này để liên lạc mua bán ma túy

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi HĐXX nghị án: “Bị cáo xin HĐXX cho bị cáo mức án nhẹ để bị cáo sớm được về với gia đình, làm lại cuộc đời"

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với diễn biến của vụ án đã xảy ra, tài liệu do cơ quan điều tra thu thập được và biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ trong vụ án, kết luận giám định của cơ quan chuyên môn, từ đó HĐXX có đủ cơ sở để kết luận:

Trong tháng 12 năm 2023, Nguyễn Văn K1 đã có hành vi mua ma tuý loại Methamphetamine về bán cho các đối tượng nghiện nhằm mục đích kiếm lời, cụ thể như sau:

  • + Lần thứ nhất : Khoảng 17 giờ ngày 17/12/2023, tại vòng xoay số G thuộc huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, K1 bán cho T 01 (một) gói ma túy đá với số tiền 200.000 đồng.
  • + Lần thứ hai: Khoảng 19 giờ ngày 21/12/2023, tại khu vực thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, K1 bán cho B 01 (một) gói ma túy đá với sô tiền 200.000 đồng
  • + Lần thứ ba: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 24/12/2023, tại khu vực vòng xoay H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, K1 đang trên đường đi bán ma tuý đá cho T với số tiền 1.000.000 đồng, thì bị công an bắt quả tang.

Tính đến ngày bị bắt, Nguyễn Văn K1 đã 03 (ba) lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện, do đó hành vi của bị cáo Nguyễn Văn K1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Hành vi của bị cáo không những ảnh hưởng đến đời sống kinh tế trên địa bàn thành phố, làm mất an ninh trật tự tại địa phương mà còn là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác liên quan đến ma túy. Bị cáo là thanh niên đã trưởng thành nên nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền để thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà không phải bỏ công sức lao động, nên bị cáo đã bất chấp pháp luật và dư luận quần chúng thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo

[6] Về xử lý vật chứng:

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì ghi số 63 ngày 29/12/2023 được Phòng K2, Công an tỉnh B có chữ ký ghi họ tên của Thượng tá Đỗ Ngọc Đ, Hoàng Thị Mai L2, Đinh Hữu T2; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý
  • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone, số IMEI: 353903103913149, vì bị cáo đã sử dụng điện thoại này để liên lạc mua bán ma túy

[7] Các vấn đề khác:

  • - Đối với xe mô tô hiệu Honda loại Vision, biển kiểm soát: 72K1-549.20, qua xác minh là của bà Mai Thị L1, mẹ của Nguyễn Văn K1, đứng tên chủ sở hữu. Việc K1 sử dụng xe mô tô trên để đi mua bán trái phép chất ma túy bà L1 không biết nên ngày 20/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại chiếc xe mô tô trên cho bà L1 là phù hợp;
  • - Đối với Tâm T1 đã bán ma túy cho Nguyễn Văn K1; T và B mua ma tuý của K1, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an thành phố B tiếp tục xác minh, khi có kết quả sẽ xử lý sau là phù hợp

[8] Về án phí HSST: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K1 07 (bảy) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2023

- Về Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS

  • + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì ghi số 63 ngày 29/12/2023 được Phòng K2, Công an tỉnh B có chữ ký ghi họ tên của Thượng tá Đỗ Ngọc Đ, Hoàng Thị Mai L2, Đinh Hữu T2; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý
  • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu iPhone, số IMEI: 353903103913149.

(Toàn bộ vật chứng hiện Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Bà Rịa đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản Số: 90 ngày 17/5/2024)

- Về Án phí HSST: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng)

- Về Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án (13 - 6 - 2024) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu(PV27);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND thành phố Bà Rịa;
  • - Công an thành phố Bà Rịa;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 68/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn K1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger