TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
Bản án số: 68/2024/DS-ST Ngày 12 tháng 9 năm 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đời
Bà Võ Thị Phương
-Thư ký phiên tòa: Bà Trương Ngọc Thảo Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng: Bà Nguyễn Diệu Ny - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2024 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 130/2024/QÐST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH M (G), địa chỉ: Tầng E Khối E, Tòa nhà C, Số B đường C, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Huyền T - Chức vụ: Giám đốc.
Người thế quyền và nghĩa vụ của Công ty TNHH M: Công ty Cổ phần M1, địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà C, số B phố T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. Đại diện: Ông Hoàng Anh T1, chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Đăng H, địa chỉ: Tầng A, số A P, quận H, thành phố Đà Nẵng (Theo Giấy ủy quyền số 06/2024/UQ-TGĐ ngày 11/7/2024 của Tổng Giám đốc và Giấy ủy quyền số 7608/2024/UQ-XLN-JUPITER ngày 12/8/2024 của Giám đốc Trung tâm Xử lý nợ). Có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1968 và ông Nguyễn Đức T2, sinh năm: 1964, cùng trú tại: K A, tổ B phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng (Ông T2 có mặt, bà H1 vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Công ty TNHH M2, địa chỉ: A N, quận N, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Ngọc T3, chức vụ: Giám đốc. Có mặt.
+ Bà Lê Thị T4, sinh năm: 1972, địa chỉ: A N, quận N, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Công ty TNHH M và người thế quyền của nguyên đơn Công ty Cổ phần M1 trình bày:
Ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị H1 vay vốn tại Ngân hàng TMCP V (V1) - Chi nhánh Đ theo Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN2001092086882 ngày 18/01/2020 với các nội dung cụ thể như sau:
- - Số tiền cho vay: 500.000.000 đồng;
- - Thời hạn vay: 96 tháng;
- - Mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền mua xe ô tô;
- - Các kỳ hạn trả nợ: Gốc và lãi trả hàng tháng vào ngày 15 của tháng;
- - Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân đầu tiên là 7,9%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng, từ tháng 13 trở đi, sẽ được điều chỉnh 03 tháng/lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/07, 01/10 hằng năm. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 20/04/2020, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày 01/07/2020. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản đảm bảo dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 96 tháng có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,5%/năm.
- - Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn;
- - Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là xe ô tô mang nhãn hiệu MAZDA BT50 mang biển kiểm soát số: 43C-232.46 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 088239 do Phòng C Công an thành phố Đ cấp ngày 17/01/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị H1. Việc thế chấp được xác định theo Hợp đồng thế chấp ký ngày 18/01/2020. Việc thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ kể từ ngày 19/08/2022 nên toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang quá hạn.
Ngày 30/06/2023, Ngân hàng TMCP V (V1) và Công ty TNHH M3 (G) đã ký kết Hợp đồng mua bán nợ Số 3-30/6/2023/GLX-VPB và Phụ lục đính kèm. Theo đó, V1 đồng ý bán và G đồng ý mua khoản nợ của khách hàng vay là ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị H1 bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng mà ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị H1 đã ký kết với V1.
Đến ngày 12/7/2024, Công ty Cổ phần M1 mua lại khoản nợ của Công ty TNHH M theo Hợp đồng Mua bán nợ số 09/HĐMBN/GALAXY-JUPITER và Phụ lục đính kèm. Theo thoả thuận tại Hợp đồng mua bán nợ giữa hai bên thì Công ty TNHH M chuyển giao quyền chủ nợ, Công ty Cổ phần M1 kế thừa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của Công ty TNHH M đối với các khoản nợ đã mua và quyền đối với các tài sản đảm bảo liên quan đến khoản nợ của ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị H1 trong đó có quyền thực hiện khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Tòa án theo quy định pháp luật. Vì vậy, Công ty Cổ phần M1 đề nghị Tòa án công nhận và thực hiện thủ tục chuyển giao, kế thừa toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của Công ty TNHH M sang Công ty Cổ phần M1 trong vụ án tranh chấp tín dụng giữa Nguyên đơn là Công ty TNHH M với bị đơn là ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị H1 theo các khoản 1, khoản 2 Điều 365 Bộ luật Dân sự, khoản 4 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm b, c khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP.
Tại phiên tòa, Công ty Cổ phần M1 đề nghị Tòa án giải quyết các nội dung sau:
- - Đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị H1 phải thanh toán cho Công ty cổ phần M1 toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi, tiền lãi chậm trả lãi và các khoản phát sinh liên quan theo Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ và các văn bản tín dụng nêu trên tính đến ngày 12/9/2024 là 557.438.726 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 390.589.988 đồng; Nợ lãi là: 166.848.738 đồng.
- - Đề nghị Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ và văn bản tín dụng của khoản vay cho đến ngày ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị H1 thực tế thanh toán hết nợ cho Công ty Cổ phần M1.
- - Công ty Cổ phần M1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Công ty là xe ô tô mang nhãn hiệu MAZDA BT50 mang biển kiểm soát số: 43C-232-46 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 088239 do Phòng C Công an thành phố Đ cấp ngày 17/01/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị H1 theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Đức T2 trình bày:
Ông T2 và bà H1 thừa nhận có vay tại Ngân hàng TMCP V (V1) vào ngày 30/06/2023 như Công ty Cổ phần M1 trình bày là đúng. Cụ thể:
- - Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số: LN2001092086882 ngày 18/01/2020;
- - Số tiền cho vay: 500.000.000 đồng;
- - Thời hạn vay: 96 tháng;
- - Mục đích sử dụng vốn: Thanh toán tiền mua xe ô tô;
- - Các kỳ hạn trả nợ: Gốc và lãi trả hàng tháng vào ngày 15 của tháng;
- - Lãi suất trong hạn: Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân đầu tiên là 7,9%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng, từ tháng 13 trở đi, sẽ được điều chỉnh 03 tháng/ lần vào các ngày 01/01, 01/4, 01/7, 01/10 hàng năm. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 20/04/2020, ngày điều chỉnh lãi suất tiếp theo là ngày 01/7/2020. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản đảm bảo dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 96 tháng có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,5%/năm.
- - Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 150% lãi suất trong hạn.
- - Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là: Xe ô tô mang nhãn hiệu MAZDA BT50 mang biển kiểm soát số: 43C-232-46 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 088239 do Phòng C Công an thành phố Đ cấp ngày 17/01/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị H1. Việc thế chấp được xác định theo Hợp đồng thế chấp ký ngày 18/01/2020. Việc thế chấp được đăng ký giao dịch đảm bảo theo đúng quy định pháp luật.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, vợ chồng ông T2 bà H1 có vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Nay khoản nợ đã bán sang Công ty TNHH M, sau đó là Công ty Cổ phần M1 thì vợ chồng ông bà không có ý kiến về việc mua bán nợ giữa các doanh nghiệp.
Về tài sản thế chấp thì bà H1 có đem cầm cố cho Công ty TNHH M2 số tiền 200.000.000 đồng, sau đó bà H1 có nhờ người đến chuộc xe thì Công ty M2 trả lời không còn xe nên nay không có xe để xử lý thế chấp cho Công ty Cổ phần M1. Bà H1 ông T2 đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đại diện Công ty TNHH M2 và bà Lê Thị T4 trình bày:
Phía bà Nguyễn Thị H1 cung cấp hợp đồng mua bán ký gửi ngày 01/6/2020 chỉ có chữ ký của bà H1, không có chữ ký con dấu của bên đại diện ký nhận ký gửi của Công ty TNHH M2, đối với hợp đồng dân sự ngày 01/6/2020 giữa bà H1 và Công ty M2 thì có chữ ký của bà H1 và chữ ký ghi Lê Thị T4 chữ ký không phải của giám đốc Công ty, hơn nữa dấu đóng của công ty trên giấy chỉ có một nửa con dấu. Do đó, không có cơ sở để xác định bà Lê Thị T4 và Công ty TNHH M2 có liên quan đến vụ án này. Công ty chúng tôi không có liên quan gì trong vụ án.
-Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã tuân theo đúng pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại khoản 5 Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa, người tham gia tố tụng là nguyên đơn, bị đơn, người liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần M1 là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty, buộc bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Đức T2 phải thanh toán cho Công ty Cổ phần M1 số tiền tính đến ngày 12/9/2024 là 557.438.726 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 390.589.988 đồng; Nợ lãi là: 166.848.738 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” là tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị H1 cư trú tại quận S, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3]. Bị đơn bà Nguyễn Thị H1 có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vắng bà H1 theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Căn cứ Hợp đồng cho vay kiêm hợp đồng thế chấp xe ô tô số LN:2001092086882 ngày 18/01/2020, lịch sử thanh toán, lời khai của đại diện nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì đủ cơ sở xác định bà Nguyễn Thị H1 và ông Lê Đức T5 có vay vốn tại Ngân hàng TMCP V với số tiền 500.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích thanh toán xe ô tô, lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân đầu tiên là 7,9%/năm, lãi suất cho vay trong hạn được cố định trong 12 tháng, kể từ tháng 13 trở đi sẽ được điều chỉnh 03 tháng/lần, mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản đảm bảo dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 96 tháng có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 3,5%/năm, lãi suất nợ quá hạn là bằng 150% lãi suất trong hạn, có biện pháp đảm bảo là thế chấp tài sản xe ô tô mang nhãn hiệu MAZDA BT50 mang biển kiểm soát số: 43-232-46 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 088239, việc thế chấp xác định theo Hợp đồng thế chấp ký ngày 18/01/2020. Xét thấy, các chủ thể giao kết hợp đồng có đầy đủ năng lực trách nhiệm dân sự, việc ký kết hợp đồng tín dụng là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định tại các Điều 117, 398, 401 và 463 Bộ luật Dân sự nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch.
[2.2]. Thực hiện hợp đồng tín dụng, khách hàng bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Đức T2 đã nhận đủ số tiền để thanh toán tiền xe ô tô. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Đức T2 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ kể từ ngày 19/8/2022 nên toàn bộ khoản nợ đã chuyển sang quá hạn, tính đến ngày 12/9/2024 số tiền bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Đức T2 còn nợ là: 557.438.726 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 390.589.988 đồng; Nợ lãi là: 166.848.738 đồng.
[2.3]. Ngày 30/6/2023, khoản nợ của bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Đức T2 đã được Ngân hàng TMCP V (V1) chuyển nhượng cho Công ty TNHH M theo Hợp đồng mua bán nợ số 3-30/06/2023/GLX-VPB và phụ lục đính kèm. Trong quá trình giải quyết vụ án ngày 12/7/2024 khoản nợ của bà H1 và ông T2 đã được Công ty TNHH M chuyển nhượng cho Công ty Cổ phần M1. Hợp đồng mua bán nợ của Công ty TNHH M và Công ty Cổ phần M1 đã phát sinh hiệu lực. Do đó Công ty Cổ phần M1 là người thế quyền, nghĩa vụ và có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Đức T2 theo quy định tại Điều 365, 368 Bộ luật Dân sự.
[2.4]. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Công ty Cổ phần M1 yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Đức T2 phải thanh toán toàn bộ số tiền là 557.438.726 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 390.589.988 đồng; lãi quá hạn tính đến ngày 12/9/2024: 166.848.738 đồng, bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Đức T2 có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn Công ty Cổ phần M1 có căn cứ theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Dân sự, Điều 100 Luật Các tổ chức tín dụng, Điều 7, Điều 8, Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Án lệ số 08/2016/AL ngày 17/10/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty.
[2.5]. Về yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo: Tài sản thế chấp là Xe ô tô mang nhãn hiệu MAZDA BT50 mang biển kiểm soát số: 43C-232-46 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 088239 do Phòng C Công an thành phố Đ cấp ngày 17/01/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị H1 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên thế chấp, Hợp đồng thế chấp của các bên ký kết được công chứng, có đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Bà Nguyễn Thị H1 khai hiện tài sản không còn do bà Nguyễn Thị H1 cầm cố cho Công ty TNHH M2, chưa trả được số tiền chuộc cầm cố đúng hẹn nên Công ty TNHH M2 đã thanh lý tài sản. Công ty TNHH M2 và bà Lê Thị T4 không thừa nhận đã nhận cầm cố do Hợp đồng cầm cố không do người đại diện theo pháp luật của Công ty M2 ký và chỉ có ½ con dấu của Công ty.
Ngày 31/5/2024 Tòa án nhân dân quận Sơn Trà đã gửi Phiếu chuyển đơn khởi kiện cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận S để điều tra làm rõ có dấu hiệu hình sự đối với hành vi cầm cố xe đã đăng ký thế chấp. Ngày 10/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận S trả lời cho Tòa án không khởi tố vụ án hình sự.
Do hợp đồng thế chấp đã phát sinh hiệu lực pháp luật, hiện chưa có căn cứ xác định tài sản thế chấp do người khác quản lý sử dụng ngoài bên thế chấp nên cần chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần M1 về xử lý tài sản bảo đảm, trong trường hợp ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tài sản thế chấp sẽ bị xử lý theo Điều 299 Bộ luật Dân sự để Công ty thu hồi nợ.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí tranh chấp dân sự có giá ngạch trên số tiền phải trả là 20.000.000 đồng + 4% x 157.438.726 đồng = 26.297.549 đồng, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4]. Chi phí tố tụng khác: Nguyên đơn đã tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nên cần buộc ông bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn theo quy định Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án. được niêm yết.
[6]. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điều 280, Điều 365, Điều 368, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015;
- - Khoản 100, 103 Luật Tổ chức tín dụng;
- - Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao;
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của người thế quyền và nghĩa vụ của Công ty TNHH M là Công ty Cổ phần M1 đối với bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Đức T2.
1. Buộc bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Đức T2 phải thanh toán cho người thế quyền và nghĩa vụ của Công ty TNHH M là Công ty M1 số tiền 557.438.726 đồng (Năm trăm năm mươi bảy triệu, bốn trăm ba mươi tám nghìn, bảy trăm hai mươi sáu đồng). Trong đó:
Nợ gốc: 390.589.988 đồng;
Nợ lãi phát sinh tính đến ngày 12/9/2024: 166.848.738 đồng .
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp xe ô tô ngày 18/01/2020. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, Công ty Cổ phần M1 có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì tài sản thế chấp là xe ô tô mang nhãn hiệu MAZDA BT50 mang biển kiểm soát số: 43C-232.46 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 088239 do Phòng C Công an thành phố Đ cấp ngày 17/01/2020 đứng tên bà Nguyễn Thị H1 theo Hợp đồng cho vay kiêm Hợp đồng thế chấp xe ô tô ngày 18/01/2020 được đăng ký thế chấp tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản bảo đảm tại thành phố Đà Nẵng ngày 20/01/2020 được xử lý theo Điều 299 Bộ luật Dân sự để đảm bảo thi hành án.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị H1 và ông Nguyễn Đức T2 phải chịu 26.297.549 đồng (Hai mươi sáu triệu, hai trăm chín mươi bảy nghìn, năm trăm bốn mươi chín đồng). Công ty Cổ phần M1 không chịu án phí, hoàn trả cho Công ty M1 số tiền tạm ứng án phí 12.050.200 đồng (Mười hai triệu, không trăm năm mươi nghìn hai trăm đồng) Công ty TNHH M đã nộp theo biên lai thu số: 0001757 ngày 04 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
3. Chi phí tố tụng khác: Buộc ông Nguyễn Đức T2 và bà Nguyễn Thị H1 phải hoàn trả cho người thế quyền và nghĩa vụ của Công ty TNHH M là Công ty Cổ phần M1 chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 2.000.000₫ (Hai triệu đồng).
4. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Hằng |
Bản án số 68/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 68/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín giữa Công ty J và ông T bà M
