|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2024/HN&GD-ST
Ngày: 12 - 7 - 2024
V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN DÂN NHÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lẫm.
- - Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Hùng.
- Ông Nguyễn Thanh Chắc.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 66/2024/TLST - HN&GĐ ngày 07/5/2024 vụ án " Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 83/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Văn Tấn L, sinh năm: 1994.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Linh H, sinh năm: 1994.
Địa chỉ: Ấp A, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.
Địa chỉ: Ấp F, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 12/01/2024 và tại phiên toà nguyên đơn anh Lê Văn T L trình bày: Vào năm 2020 anh và chị Nguyễn Linh H kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 18/12/2020 tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang, hôn nhân do anh và chị H tự nguyện. Anh và chị H chung sống hạnh phúc đến tháng 6/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh đi làm về muộn dẫn đến bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn hoà hợp, anh và chị H đã ly thân từ tháng 6/2022 đến nay. Do cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và không thể hàn gắn được nên anh yêu cầu được ly hôn với chị H.
Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Nguyễn Minh C (nữ), sinh ngày 02/10/2021 con chung hiện nay do chị H nuôi dưỡng, khi ly hôn anh đồng ý giao con chung cho chị H nuôi dưỡng, mức cấp dưỡng nuôi con chung do anh và chị H tự thoả thuận.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại văn bản ngày 14/6/2024 bị đơn chị Nguyễn Linh H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn T Lực tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn ngày 18/12/2020 tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau vợ chồng thường xảy ra cự cãi, bản thân chị đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên anh L yêu cầu ly hôn chị đồng ý.
Về con chung: Có 01 con chung tên Lê Nguyễn Minh C (nữ), sinh ngày 02/10/2021 con chung hiện nay do chị nuôi dưỡng, khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, chưa yêu cầu anh L cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Do bận đi làm ăn xa nên chị xin vắng mặt trong quá trình Toà án giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục: Đối với bị đơn chị Nguyễn Linh H có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt chị H.
[2] Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn Tấn L và chị Nguyễn Linh H kết hôn với nhau vào năm 2020 và có đăng ký kết hôn ngày 18/12/2020 tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang theo đúng quy định của pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa anh L và chị H là hợp pháp được pháp luật công nhận là vợ chồng. Anh L và chị H chung sống đến tháng 6/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn tại phiên toà anh L trình bày là do anh đi làm về muộn dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn hoà hợp, anh L và chị H đã ly thân từ tháng 6/2022 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải để hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng giữa anh L và chị H nhưng tại phiên toà anh L cương quyết ly hôn với chị H và tại văn bản ngày 14/6/2024 chị H đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh L. Điều đó cho thấy tình nghĩa vợ chồng giữa anh L và chị H không thể hàn gắn được, vợ chồng không còn quan tâm, yêu thương chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh L yêu cầu ly hôn và chị H đồng ý ly hôn nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Về con chung: Anh L và chị H Có 01 con chung tên Lê Nguyễn Minh C (nữ), sinh ngày 02/10/2021 con chung hiện nay do chị H nuôi dưỡng, khi ly hôn anh L đồng ý giao con chung cho chị H nuôi dưỡng còn chị H yêu cầu được nuôi dưỡng con chung chưa yêu cầu anh L cấp dưỡng. Do đó Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Lê Nguyễn Minh C cho chị H nuôi dưỡng là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị H chưa yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Anh L, chị H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Đương sự còn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[7] Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, 28, 35, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào Điều 9, 53, 55, 57, 81, 82, 83, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Lê Văn Tấn L và chị Nguyễn Linh H.
Về con chung: Tiếp tục giao cháu Lê Nguyễn Minh C (nữ), sinh ngày 02/10/2021 cho chị Nguyễn Linh H nuôi dưỡng, anh Lê Văn T Lực chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho anh Lê Văn T Lực không ai được quyền cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Lê Văn Tấn L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), chuyển 300.000 đồng anh L đã nộp theo biên lai thu số 0010053 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ thành án phí. Anh L đã nộp xong.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn anh Lê Văn Tấn L có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 12/7/2024. Bị đơn chị Nguyễn Linh H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Lẫm |
Bản án số 68/2024/HN&GD-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 68/2024/HN&GD-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: anh L yêu cầu ly hôn với chị H
