TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 68/2024/DS-ST Ngày: 11-7-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Lợi
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Ngọc Thương
2. Bà Ngô Thị Thúy Hảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 96/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 71/2024/QÐST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam); Địa chỉ trụ sở chính: Tầng C, T và T, Phòng CP1.L01 và Phòng CP2.L01, Tòa nhà C, số B L, Phường N, Quận B, thành phố Hà Nội; Địa chỉ liên hệ: Phòng 301, lầu 3, số A N, Phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Bà Wee Sung San M – Tổng Giám đốc là người đại diện theo pháp luật; ông Sutar A – Trưởng bộ phận Thu hồi nợ là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 03/01/2024); ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền lại ngày 24/01/2024) (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Lê Văn T1, sinh năm 1969 (vắng mặt)
Địa chỉ: 3 N, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 24/01/2024 và các lần làm việc tại Tòa, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam) (gọi tắt là Ngân hàng) trình bày:
Căn cứ Đơn đề nghị vay tiêu dùng cá nhân ký ngày 16/11/2021 của ông Lê Văn T1, Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam) đã cấp tín dụng cho ông Lê Văn T1 theo chi tiết khoản vay số 1777661 như sau: Ngày 22/11/2021, Ngân hàng đã giải ngân cho ông T1 vay số tiền 885.000.000đ (tám trăm tám mươi lăm triệu đồng); Thời hạn vay: đến ngày 15/10/2026; Mục đích vay: Tiêu dùng cá nhân; Lãi suất trong hạn:12,5%/năm.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, ông T1 đã nhiều lần vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng. Tính đến ngày 15/3/2023, ông T1 đã thanh toán được cho Ngân hàng 178.944.384đ (một trăm bảy mươi tám triệu chín trăm bốn mươi bốn ngàn ba trăm tám mươi tư đồng) tiền nợ gốc và 123.436.830đ (một trăm hai mươi ba triệu bốn trăm ba mươi sáu ngàn tám trăm ba mươi đồng) tiền nợ lãi. Từ đó đến nay, ông T1 không thanh toán thêm khoản tiền nào cho Ngân hàng.
Nay Ngân hàng khởi kiện buộc ông Lê Văn T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam) số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 05/6/2024 là 857.700.334đ (tám trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm ngàn ba trăm ba mươi tư đồng), trong đó: nợ gốc là 706.055.616đ (bảy trăm lẻ sáu triệu không trăm năm mươi lăm ngàn sáu trăm mười sáu đồng), nợ lãi trong hạn là 41.703.306đ (bốn mươi mốt triệu bảy trăm lẻ ba ngàn ba trăm lẻ sáu đồng), nợ lãi quá hạn là 109.941.412đ (một trăm lẻ chín triệu chín trăm bốn mươi mốt ngàn bốn trăm mười hai đồng). Đồng thời, ông T1 còn phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi quá hạn phát sinh trên tổng dư nợ gốc thực tế kể từ ngày 06/6/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký là 150% lãi suất trong hạn (tương đương 18,75%/năm).
Tại bản tự khai ngày 23/5/2024, bị đơn – ông Lê Văn T1 trình bày:
Ông Lê Văn T1 xác nhận có vay của Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam) số tiền 885.000.000đ (tám trăm tám mươi lăm triệu đồng). Ông T1 đã thanh toán gốc và lãi hàng tháng cho đến ngày 15/3/2023 thì không có khả năng thanh toán tiếp. Số tiền còn nợ tính đến ngày 15/8/2023 là 750.849.407đ (bảy trăm năm mươi triệu tám trăm bốn mươi chín ngàn bốn trăm lẻ bảy đồng).
Do làm ăn thua lỗ, cộng với số tiền vay giúp cho người nhà chữa bệnh ung thư nên mất khả năng chi trả. Nay ông T1 mong muốn ngân hàng tạo điều kiện cho ông T1 được hoàn trả nợ gốc và lãi hàng tháng thêm 6 tháng. Sau đó, ông T1 sẽ thu xếp trả góp cho Ngân hàng ít nhất 5.000.000đ (năm triệu đồng)/tháng cho đến khi hết nợ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu cho rằng:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung: Căn cứ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đối chiếu quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam) đối với ông T1, buộc ông Lê Văn T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam) số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 05/6/2024 là 857.700.334đ (tám trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm ngàn ba trăm ba mươi tư đồng), trong đó: nợ gốc là 706.055.616đ (bảy trăm lẻ sáu triệu không trăm năm mươi lăm ngàn sáu trăm mười sáu đồng), nợ lãi trong hạn là 41.703.306đ (bốn mươi mốt triệu bảy trăm lẻ ba ngàn ba trăm lẻ sáu đồng), nợ lãi quá hạn là 109.941.412đ (một trăm lẻ chín triệu chín trăm bốn mươi mốt ngàn bốn trăm mười hai đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam) khởi kiện ông Lê Văn T1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Ông T1 có nơi cư trú tại thành phố V nên Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa thì thấy: Bị đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông Lê Văn T1 phải thanh toán số tiền 857.700.334đ (tám trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm ngàn ba trăm ba mươi tư đồng), Hội đồng xét xử nhận thấy:
Trên cơ sở đơn đề nghị vay tiêu dùng cá nhân do ông Lê Văn T1 ký ngày 16/11/2021 thì ngày 22/11/2021, Ngân hàng đã cấp cho ông T1 Trích lục hợp đồng vay số 1777661 với số tiền vay được duyệt là 885.000.000đ (tám trăm tám mươi lăm triệu đồng); lãi suất áp dụng là 12,5%/năm; ngày đến hạn thanh toán đợt cuối cùng là ngày 15/12/2026. Hội đồng xét xử nhận thấy, việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, hình thức và nội dung của hợp đồng tín dụng đã ký phù hợp với các quy định tại các Điều 117 và Điều 119 của Bộ luật Dân sự và phù hợp với các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng. Do đó, hợp đồng tín dụng nêu trên có hiệu lực pháp luật nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên và các bên có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết.
Theo bảng lịch sử thanh toán và bảng tính lãi chi tiết do Ngân hàng cung cấp thì ngày 22/11/2021, Ngân hàng đã giải ngân cho ông T1 số tiền vay là 885.000.000đ (tám trăm tám mươi lăm triệu đồng). Tính đến ngày 15/3/2023, ông T1 đã thanh toán được cho Ngân hàng 178.944.384đ (một trăm bảy mươi tám triệu chín trăm bốn mươi bốn ngàn ba trăm tám mươi tư đồng) tiền nợ gốc. Từ thời điểm đó đến này, ông T1 đã không thanh toán thêm khoản tiền nào cho Ngân hàng. Vì vậy, ông T1 còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 706.055.616đ (bảy trăm lẻ sáu triệu không trăm năm mươi lăm ngàn sáu trăm mười sáu đồng).
Căn cứ phiếu tính lãi do Ngân hàng cung cấp thể hiện mức lãi suất trong hạn Ngân hàng áp dụng đối với khoản vay của ông T1 là 12,5%/năm và mức lãi suất quá hạn là 18,75%/năm. Hội đồng xét xử xét thấy, mức lãi suất này là phù hợp với thỏa thuận các bên đã ký kết và phù hợp quy định pháp luật. Do vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên từ tháng 4/2023, toàn bộ khoản vay của ông T1 đã chuyển sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 05/6/2024, tổng số tiền lãi phát sinh từ khoản vay của ông T1 là 275.081.548đ (hai trăm bảy mươi lăm triệu không trăm tám mươi mốt ngàn năm trăm bốn mươi tám đồng), trong đó gồm: 165.140.136đ (một trăm sáu mươi lăm triệu một trăm bốn mươi ngàn một trăm ba mươi sáu đồng) tiền lãi trong hạn và 109.941.412đ (một trăm lẻ chín triệu chín trăm bốn mươi mốt ngàn bốn trăm mười hai đồng) tiền lãi quá hạn. Ông T1 đã thanh toán được 123.436.830đ (một trăm hai mươi ba triệu bốn trăm ba mươi sáu ngàn tám trăm ba mươi đồng) tiền lãi trong hạn nên số tiền lãi ông T1 còn nợ Ngân hàng là 151.644.718đ (một trăm năm mươi mốt triệu sáu trăm bốn mươi bốn ngàn bảy trăm mười tám đồng), trong đó gồm: 41.703.306đ (bốn mươi mốt triệu bảy trăm lẻ ba ngàn ba trăm lẻ sáu đồng) tiền lãi trong hạn và 109.941.412đ (một trăm lẻ chín triệu chín trăm bốn mươi mốt ngàn bốn trăm mười hai đồng) tiền lãi quá hạn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn thừa nhận việc đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc và lãi còn nợ là có cơ sở để chấp nhận. Vì vậy, căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam), buộc ông Lê Văn T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 05/6/2024 là 857.700.334đ (tám trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm ngàn ba trăm ba mươi tư đồng), trong đó: nợ gốc là 706.055.616đ (bảy trăm lẻ sáu triệu không trăm năm mươi lăm ngàn sáu trăm mười sáu đồng), nợ lãi trong hạn là 41.703.306đ (bốn mươi mốt triệu bảy trăm lẻ ba ngàn ba trăm lẻ sáu đồng), nợ lãi quá hạn là 109.941.412đ (một trăm lẻ chín triệu chín trăm bốn mươi mốt ngàn bốn trăm mười hai đồng).
[2.2] Đối với yêu cầu buộc ông T1 phải trả khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 06/6/2024 đến khi thanh toán hết nợ:
Yêu cầu này của Ngân hàng là phù hợp với quy định của pháp luật và hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết. Căn cứ vào Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17-10-2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17-10-2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, buộc ông T1 phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi quá hạn phát sinh trên tổng dư nợ gốc thực tế kể từ ngày 06/6/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký là 150% lãi suất trong hạn (tương đương 18,75%/năm).
[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí là 37.731.000đ (ba mươi bảy triệu bảy trăm ba mươi mốt ngàn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam) đối với ông Lê Văn T1.
Buộc ông Lê Văn T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam) số tiền số tiền gốc và lãi là 857.700.334đ (tám trăm năm mươi bảy triệu bảy trăm ngàn ba trăm ba mươi tư đồng), trong đó: nợ gốc là 706.055.616đ (bảy trăm lẻ sáu triệu không trăm năm mươi lăm ngàn sáu trăm mười sáu đồng), nợ lãi trong hạn là 41.703.306đ (bốn mươi mốt triệu bảy trăm lẻ ba ngàn ba trăm lẻ sáu đồng), nợ lãi quá hạn là 109.941.412đ (một trăm lẻ chín triệu chín trăm bốn mươi mốt ngàn bốn trăm mười hai đồng).
Đồng thời, ông T1 còn phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam) tiền lãi quá hạn phát sinh trên tổng dư nợ gốc thực tế kể từ ngày 06/6/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng đã ký là 150% lãi suất trong hạn (tương đương 18,75%/năm).
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Văn T1 phải nộp 37.731.000đ (ba mươi bảy triệu bảy trăm ba mươi mốt ngàn đồng).
Hoàn lại cho Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Việt Nam) số tiền 17.000.000đ (mười bảy triệu đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000340 ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu.
[3] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (người vắng mặt cũng 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Hồng Lợi |
Bản án số 68/2024/DS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 68/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Charty
