Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 68/2024/HS-ST

Ngày: 11-07-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Cao Thị Tuyết Mai.
  2. Bà Võ Thanh Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 72/TLST-HS ngày 07 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 06 năm 2024 đối với:

- Bị cáo:

Nguyễn Anh T; sinh ngày 16 tháng 06 năm 1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 267/58 Khu phố E, L, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 1 M, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Phan Thị Thanh L.

Tiền án: Năm 2020, Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 103/2020/HS-ST ngày 16/12/2020). Chấp hành xong bản án ngày 25/09/2022.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Năm 2005, Ủy ban nhân dân Thành phố H đưa vào cơ sở chữa bệnh với thời gian chấp hành là 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Quyết định số 802/QĐ-UB ngày 17/02/2005). Chấp hành xong ngày 31/12/2008 (Quyết định số 9097/QĐ-UBND ngày 31/12/2008).

- Năm 2010, Ủy ban nhân dân phường H, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời gian chấp hành là 06 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Quyết định số 222/QĐ-UB ngày 06/12/2010).

- Năm 2019, Ủy ban nhân dân phường H, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời gian chấp hành là 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (Quyết định số 99/QĐ-UBND ngày 26/04/2019).

- Năm 2011, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 117/2011/HSPT ngày 20/09/2011). Chấp hành xong bản án ngày 06/12/2013.

Bắt tạm giam ngày 18/12/2023 “có mặt”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1958.

Địa chỉ: 2 L, khu phố E, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Nguyễn Anh T là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, Nguyễn Anh T điều khiển xe gắn máy biển số 59X1-113.19 đến hẻm C N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, Nguyễn Anh T gặp Nguyễn Ngọc H1 và hỏi mua 02 tép ma túy loại Heroin với giá 200.000 đồng. Nguyễn Ngọc H1 nhận tiền rồi đưa cho Nguyễn Anh T 02 đoạn ống nhựa, bên trong chứa ma túy. Sau khi nhận ma túy, Nguyễn Anh T cầm ma túy trong tay trái rồi điều khiển xe gắn máy về nhà để sử dụng. Trên đường về nhà đến trước số A H, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Anh T bị Tổ Tuần tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, Cơ quan Công an phát hiện Nguyễn Anh T đang cất giữ trong tay trái 02 đoạn ống nhựa chứa chất bột màu trắng. Do nghi vấn là ma túy, Cơ quan Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản phạm tội quả tang, tiến hành thu giữ vật chứng và đưa Nguyễn Anh T về trụ sở Công an P1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh để điều tra làm rõ. Kết quả xét nghiệm ma túy, Nguyễn Anh T dương tính với ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 148/KL-KTHS ngày 27/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,1366 g (không phẩy một ba sáu sáu gam) loại Heroine (H2), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tại Cáo trạng số 71/CT-VKSQ4 ngày 04/06/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Anh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Anh T thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và xin được giảm nhẹ một phần hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù giam và miễn hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng: Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Anh T và hình dấu Công an P1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định; Trả lại Nguyễn Anh T 01 (một) điện thoại di động hiệu S, màu xanh, đã qua sử dụng, Imeil: 354491510405023, số I: 35702290040521; Trả lại ông Nguyễn Minh H 01 (một) xe gắn máy hiệu Hayate, màu đỏ đen, biển số 59X1-113.19, số máy: F4E4116805, số khung: B0166008.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai của bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Anh T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, tại số A H, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, Tổ Tuần tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh đã phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Anh T cất giấu 0,1366 gam ma túy ở thể rắn, loại Heroin nhằm mục đích sử dụng. Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Anh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đối với Nguyễn Ngọc H1 là người do bị cáo khai đã bán ma túy tại hẻm Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh đã bị Cơ quan điều tra Công an Thành phố H khởi tố và tạm giam về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” trong đó có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Anh T. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Hành vi của các bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đây là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn khác, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung tội phạm cho xã hội.

[4] Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Anh T có một tiền án, bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vào năm 2020. Bị cáo chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân rất xấu, cụ thể như sau: Ủy ban nhân dân Thành phố H đưa vào cơ sở chữa bệnh với thời gian chấp hành là 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” vào năm 2005; Ủy ban nhân dân phường H, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời gian chấp hành là 06 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” vào năm 2010; Ủy ban nhân dân phường H, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời gian chấp hành là 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” vào năm 2019; Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vào năm 2011. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Thu giữ của Nguyễn Anh T 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Anh T và hình dấu Công an P1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định. Xét, đây là vật cấm lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.

- Thu giữ của Nguyễn Anh T 01 (một) điện thoại di động hiệu S, màu xanh, đã qua sử dụng, Imeil: 354491510405023, số I: 35702290040521. Xét, đây là tài sản cá nhân nên trả lại cho bị cáo.

- Thu giữ của Nguyễn Anh T 01 (một) xe gắn máy hiệu Hayate, màu đỏ đen, biển số 59X1-113.19, số máy: F4E4116805, số khung: B0166008. Tại Phiếu trả lời xác minh xe của Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh thì xe gắn máy trên do ông Nguyễn Minh H đứng tên chủ sở hữu.

Tại phiên tòa,

- Ông Nguyễn Minh H khai nhận đã cho Nguyễn Anh T mượn xe gắn máy trên để đi mua đồ ăn, không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và yêu cầu được nhận lại xe gắn máy để làm phương tiện đi lại.

- Bị cáo Nguyễn Anh T khai nhận đã mượn xe gắn máy nêu trên của ông Nguyễn Minh H để đi mua đồ ăn, sau đó đã sử dụng xe gắn máy làm phương tiện đi mua ma túy.

Hội đồng xét xử xét thấy: Xe gắn máy hiệu Hayate, màu đỏ đen, biển số 59X1-113.19, số máy: F4E4116805, số khung: B0166008 là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Minh H. Xét, ông Nguyễn Minh H không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Anh T nên trả lại.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2021; Luật phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Nguyễn Anh T, 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù tính từ ngày 18 tháng 12 năm 2023.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Anh T và hình dấu Công an P1, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh bên trong chứa ma túy còn lại sau giám định.

- Trả lại Nguyễn Anh T 01 (một) điện thoại di động hiệu S, màu xanh, đã qua sử dụng, Imei1: 354491510405023, số I: 35702290040521.

- Trả lại 01 (một) xe gắn máy hiệu Hayate, màu đỏ đen, biển số 59X1-113.19, số máy: F4E4116805, số khung: B0166008 cho ông Nguyễn Minh H.

(Vật chứng được tạm giữ theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 83/2024 ngày 24/06/2024 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021; Luật phí và lệ phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021:

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - CA TP.HCM;
  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - VKSND Quận 4;
  • - Công An Quận 4;
  • - Trại tạm giam CATP.HCM;
  • - Chi cục THADS Quận 4;
  • - Lưu VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Đoàn Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 68/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 68/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger